Thông cáo báo chí về Tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Quảng Trị
- 08/07/2026 15:02
Năm 2026, tỉnh Quảng Trị phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP 10,6% theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, cùng các nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh. Trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026, việc triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình chính trị, kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; nhiều xung đột, chiến sự và bất ổn chính trị tại một số khu vực tiếp tục ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, giá năng lượng, nguyên vật liệu, giá vàng và một số hàng hóa trên thị trường thế giới biến động mạnh; chi phí vận tải quốc tế duy trì ở mức cao, gây tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước cũng như trên địa bàn tỉnh.Nhờ triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 của tỉnh Quảng Trị đạt nhiều kết quả tích cực. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển ổn định; sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng trưởng khá cao; hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch phục hồi tích cực. Môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện; an sinh xã hội được đảm bảo; văn hóa và tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng cao. Quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.GRDP quý II năm 2026 ước tính tăng 8,07% (xếp thứ 21/34 tỉnh, thành phố) và 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,10% (xếp thứ 23/34 tỉnh, thành phố) so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng này đã thể hiện sự nỗ lực lớn của các cấp, các ngành và cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, tạo nền tảng quan trọng để tỉnh tiếp tục tập trung triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp trong những tháng cuối năm nhằm phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026. Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực như sau:I. KINH TẾ1. Tăng trưởng kinh tếSáu tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước tính tăng 8,10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,94%, đóng góp 0,76 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,36% (công nghiệp tăng 10,88%, xây dựng tăng 12,01%), đóng góp 3,07 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,91%, đóng góp 3,95 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,58% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,32 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh.Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 18,65%; khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 27,33% (công nghiệp chiếm 14,34%, xây dựng chiếm 12,99%); khu vực dịch vụ chiếm 50,31%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 3,71%.Tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu 2026 đạt khá cao nhờ có sự đóng góp quan trọng của khu vực dịch vụ (khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 50,31% trong tổng số GRDP, đóng góp 3,95 điểm phần trăm vào tăng trưởng); đứng thứ hai về mức độ đóng góp là khu vực công nghiệp và xây dựng, đóng góp 3,07 điểm phần trăm; bên cạnh đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ.2. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnSáu tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều kết quả khả quan. Thời tiết tương đối thuận lợi cho sản xuất vụ Đông Xuân; vụ Đông Xuân năm nay ghi nhận một mùa vụ thắng lợi, được mùa, năng suất lúa đạt cao. Sản xuất chăn nuôi phát triển ổn định, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng khá so với cùng kỳ năm trước; công tác giám sát dịch bệnh được tăng cường, các trường hợp phát sinh nhỏ lẻ được phát hiện và xử lý kịp thời, không để lây lan diện rộng. Sản xuất lâm nghiệp đẩy mạnh công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác gỗ từ rừng trồng; tăng cường công tác quản lý, phòng cháy, chữa cháy rừng. Nuôi trồng, khai thác thủy sản phát triển khá; bà con ngư dân tích cực vươn khơi bám biển duy trì sản xuất; công tác quản lý tàu cá, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định IUU được tăng cường.a) Nông nghiệp* Trồng trọt- Sản xuất vụ Đông XuânDiện tích gieo trồng vụ Đông Xuân năm nay ước tính thực hiện 85.347,7 ha, giảm 0,1% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây lúa 55.603,7 ha, tăng 0,2%; ngô 7.167,2 ha, tăng 0,9%; khoai lang 2.921,8 ha, giảm 8,3%; lạc 5.178 ha, giảm 2,4%; rau các loại 8.077,1 ha, giảm 0,1%; đậu các loại 1.017,1 ha, tăng 5,2% so với vụ Đông Xuân năm trước.Thời tiết tương đối thuận lợi, bà con nông dân gieo trồng đúng khung lịch thời vụ, công tác thủy lợi, tưới, tiêu nước được đảm bảo, công tác phòng ngừa sâu bệnh thực hiện tốt nên vụ Đông Xuân năm nay được đánh giá là được mùa toàn diện, năng suất các loại cây trồng chủ yếu đều đạt cao.Ước tính năng suất một số cây trồng chủ yếu vụ Đông Xuân: Cây lúa đạt 63,90 tạ/ha, tăng 6,2%; ngô đạt 53,00 tạ/ha, tăng 1,1%; khoai lang đạt 84,20 tạ/ha, tăng 1,3%; lạc đạt 23,30 tạ/ha, tăng 0,5%; rau các loại đạt 112,38 tạ/ha, tăng 1,2%; đậu các loại đạt 11,62 tạ/ha, tăng 2,3% so với vụ Đông Xuân năm trước.Sản lượng lương thực vụ Đông Xuân năm nay ước đạt 393.469,2 tấn, tăng 5,9% so với vụ Đông Xuân năm trước. Trong đó: Sản lượng lúa đạt 355.307,4 tấn, tăng 6,4% so với năm trước; sản lượng lương thực khác đạt 38.161,8 tấn, tăng 1,9% so với vụ Đông Xuân năm trước.Sản lượng một số cây trồng chủ yếu vụ Đông Xuân: Ngô ước đạt 37.986,0 tấn, tăng 2%; khoai lang đạt 24.601,7 tấn, giảm 7,1%; lạc đạt 12.064,8 tấn, giảm 1,9% (nguyên nhân sản lượng giảm do diện tích gieo trồng giảm); rau các loại đạt 90.770,3 tấn, tăng 1,1%; đậu các loại 1.181,9 tấn, tăng 7,7% (sản lượng đậu tăng mạnh do tăng diện tích gieo trồng) so với vụ Đông Xuân năm trước.- Triển khai sản xuất vụ Hè Thu năm 2026Ngay sau khi hoàn thành thu hoạch lúa và các loại cây hàng năm khác vụ Đông Xuân, các địa phương tập trung vào việc triển khai sản xuất vụ Hè Thu đảm bảo đúng lịch thời vụ. Ước tính đến ngày 30/6/2026, diện tích gieo trồng lúa vụ Hè Thu thực hiện 45.833,2 ha, giảm 1,4% so với vụ Hè Thu năm trước; ngô 1.401 ha, giảm 2,0%; khoai lang 608 ha, giảm 4,9%; sắn 19.995 ha, giảm 1,0%; lạc 508 ha, giảm 6,7%; rau, đậu các loại ước trồng 4.073 ha, tăng 0,9% so với vụ Hè Thu năm trước.- Sản xuất cây lâu nămTrong 6 tháng đầu năm 2026, thời tiết tuy có nắng nóng song vẫn có nhiều đợt mưa, đã tạo điều kiện thuận lợi cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Các địa phương tập trung chăm sóc và chuyển đổi trồng một số loại cây ăn quả có giá trị cao như na Đài Loan, ổi Lê Đài Loan, mít Thái; đồng thời tiếp tục cải tạo diện tích đất vườn tạp tận dụng trồng cây ăn quả.Tổng diện tích cây lâu năm hiện có 47.595,2 ha, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây lâu năm chia theo các nhóm cây như sau: Cây ăn quả 10.094,7 ha, tăng 1,0%; cây lấy quả chứa dầu 79,3 ha, giảm 1,5%; cây điều 1 ha, giảm 16,7%; cây hồ tiêu 3.011 ha, giảm 4,3%; cây cao su 30.120,8 ha, giảm 1,0%; cà phê 3.708,5 ha, tăng 0,04%; cây chè 370,5 ha, tăng 1,5%; cây gia vị, cây dược liệu lâu năm 78,3 ha, tăng 0,3%; cây lâu năm khác 131,1 ha, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng một số cây trồng chủ yếu 6 tháng đầu năm 2026: Cao su 17.855 tấn, tăng 2,6%; hồ tiêu 3.264 tấn, tăng 0,3%; chuối 55.028,2 tấn, tăng 2,7%; cam 1.097 tấn, tăng 2,4%; bưởi 895 tấn, tăng 2,1%; dứa 2.094 tấn, tăng 1,6%; mít 2.265 tấn, tăng 2,8%; nhãn 361 tấn, giảm 2,2%; vải 372 tấn, tăng 1,0%; xoài 566 tấn, tăng 2,0% so với cùng kỳ năm trước. Thời tiết tương đối thuận lợi, sâu bệnh ít, diện tích cho sản phẩm tăng nên sản lượng đa số các loại cây trồng đều tăng so với cùng kỳ năm trước.* Chăn nuôiTính chung 6 tháng đầu năm 2026, chăn nuôi tiếp tục là một trong những lĩnh vực đóng góp quan trọng vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Mặc dù chịu tác động của chi phí thức ăn chăn nuôi và các vật tư đầu vào còn ở mức cao, song hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn đạt kết quả tích cực nhờ thị trường tiêu thụ tương đối thuận lợi, giá bán các sản phẩm chăn nuôi duy trì ở mức có lãi và công tác phòng, chống dịch bệnh được thực hiện hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo động lực để người dân duy trì, mở rộng quy mô chăn nuôi.Ước tính tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh thời điểm 30/6/2026: đàn trâu có 45.950 con, giảm 8,5%; đàn bò có 140.108 con, giảm 6%; đàn lợn có 477.944 con, giảm 0,8%; đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) có 10.015,9 nghìn con, tăng 1,1% (riêng đàn gà 8.345,9 nghìn con, tăng 1,2%) so với cùng thời điểm năm trước.Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý II/2026 ước đạt 40.940,1 tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu đạt 600 tấn, giảm 1,8%; thịt bò đạt 3.234 tấn, tăng 5%; thịt lợn đạt 25.006,9 tấn, tăng 4,5%; thịt gia cầm đạt 12.099,2 tấn, tăng 5,1% (riêng thịt gà 9.455,7 tấn, tăng 5,6%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm quý II/2026 ước đạt 48.903,8 nghìn quả, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 82.106 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu đạt 1.266 tấn, giảm 1,3%; thịt bò đạt 6.465 tấn, tăng 5,4%; thịt lợn đạt 49.749,9 tấn, tăng 3,8%; thịt gia cầm ước đạt 24.625,1 tấn, tăng 5% (riêng thịt gà đạt 18.875,1 tấn, tăng 5,6%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 97.811,9 nghìn quả, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm:- Bệnh Viêm da nổi cục trên trâu bò: Trong tháng 6, phát sinh 1 con bò chết ngày 03/6/2026 tại xã Tuyên Phú (con bò này đã mắc bệnh và báo từ đợt trước). Lũy kế đến ngày 23/6/2026, tổng số bò mắc bệnh tại xã Tuyên phú là 9 con/9 hộ/4 thôn, trong đó có 5 con chết, trọng lượng 1.140kg, 4 con còn lại đã được điều trị lành. Hiện ổ dịch đã qua 21 ngày kể từ ngày con bò mắc bệnh được điều trị lành.- Bệnh Cúm gia cầm A/H5N1: Trong tháng phát sinh 2 ổ dịch Cúm gia cầm H5N1/2 xã, phường (Ninh Châu và Nam Đông Hà), số vịt mắc bệnh, tiêu hủy 8.000 con. Lũy kế đến ngày 23/6/2026, toàn tỉnh có 3 ổ dịch Cúm gia cầm H5N1 tại 3 xã, phường (Trường Ninh, Ninh Châu và Nam Đông Hà), tổng số vịt mắc bệnh, tiêu hủy là 10.700 con. Hiện nay, 2/3 ổ dịch đã qua 21 ngày (Trường Ninh và Ninh Châu).- Bệnh Tai xanh ở lợn: Trong tháng phát sinh 1 ổ dịch Tai xanh lợn ở xã Ái Tử, số lợn mắc bệnh 7 con trong đó có 3 con chết. Lũy kế đến ngày 23/6/2026, toàn tỉnh có 1 ổ dịch Tai xanh lợn ở xã Ái Tử, số lợn mắc bệnh 7 con, trong đó có 3 con chết. Hiện ổ dịch đã qua 21 ngày [1]. b) Lâm nghiệpSản xuất lâm nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 duy trì ổn định, các địa phương tiếp tục trồng rừng mới tập trung theo kế hoạch, nhằm hoàn thành kế hoạch trồng rừng và trồng cây phân tán năm 2026. Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác gỗ từ rừng trồng được đẩy mạnh; quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng được tăng cường.Ước tính diện tích rừng trồng mới tập trung quý II/2026 đạt 5.461,0 ha, tăng 5,1%; 6 tháng đầu năm 2026 đạt 8.753,0 ha, tăng 2,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng quý II/2026 ước đạt 726.607,0 m3, tăng 9,9%; 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.151.967,0 m3, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác quý II/2026 ước đạt 219.326,0 ste, giảm 2,0%; 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 282.068,0 ste, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước.Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 8 vụ cháy rừng (tháng 6 có 4 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại là 7,3 ha. Hiện nay, thời tiết đang mùa nắng nóng gay gắt, các ngành chức năng đã xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm đôn đốc chủ rừng đẩy nhanh công tác vệ sinh rừng, xử lý thực bì phục vụ phòng cháy rừng trong mùa nắng nóng.c) Thủy sảnSáu tháng đầu năm 2026, hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì sự phát triển ổn định, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản tăng. Thời tiết cơ bản thuận lợi cho hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản; nguồn lợi thủy sản xuất hiện khá tại một số ngư trường; giá bán một số sản phẩm thủy sản tương đối ổn định, tạo động lực cho người dân tăng cường khai thác và mở rộng diện tích nuôi. Tuy nhiên, giá nhiên liệu, thức ăn thủy sản, vật tư đầu vào vẫn ở mức cao làm tăng chi phí sản xuất; nguồn lợi thủy sản ven bờ suy giảm, hiệu quả khai thác chưa ổn định; đầu ra và giá tiêu thụ các mặt hàng thủy sản còn biến động đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của người dân, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản.Sản lượng thủy sản quý II/2026 ước đạt 39.678,5 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá ước đạt 31.739,0 tấn, tăng 3,1%; tôm ước đạt 2.644,5 tấn, tăng 2,5%; thủy sản khác ước đạt 5.295,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 70.387,9 tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá ước đạt 56.646,0 tấn, tăng 2,8%; tôm ước đạt 4.960,9 tấn, tăng 2,5%; thủy sản khác ước đạt 8.781,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.* Khai thácSản lượng khai thác thủy sản quý II/2026 ước đạt 33.921,5 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá ước đạt 28.140,0 tấn, tăng 3,0%; tôm ước đạt 673,5 tấn, tăng 1,9%; thủy sản khác ước đạt 5.108,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng khai thác thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 59.098,9 tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 49.550,0 tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 1.121,9 tấn, tăng 1,7%; thuỷ sản khác đạt 8.427,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.* Nuôi trồngSản lượng thủy sản nuôi trồng quý II/2026 ước đạt 5.757,0 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá ước đạt 3.599,0 tấn, tăng 3,2%; tôm ước đạt 1.971,0 tấn, tăng 2,7%; thuỷ sản khác ước đạt 187,0 tấn, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 11.289,0 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 7.096,0 tấn, tăng 3,1%; tôm đạt 3.839,0 tấn, tăng 2,7%; thủy sản khác đạt 354,0 tấn, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước.3. Công nghiệpTháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tiếp tục duy trì ổn định và đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp ổn định hơn, nhu cầu thị trường được cải thiện và năng lực sản xuất được phát huy hiệu quả.Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý II năm 2026 ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 7,4%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,6%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 7,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước.Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước: Quặng titan đạt 11.745 tấn, giảm 6,5%; đá xây dựng đạt 1.453.962 m3, tăng 6,0%; cao lanh đạt 30.827 tấn, giảm 44,1%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 9.044 tấn, giảm 49,4%; tinh bột sắn đạt 23.442 tấn, giảm 60,3%; bia đóng chai đạt 3.099 nghìn lít, tăng 24,4%; bia đóng lon đạt 20.191 nghìn lít, tăng 19,8%; nước khoáng đạt 1.038 nghìn lít, tăng 31,3%; áo quần các loại (trừ áo sơ mi người lớn) đạt 20.538 nghìn cái, tăng 12,2%; áo sơ mi đạt 7.072 nghìn cái, tăng 6,2%; dăm gỗ đạt 768.590 tấn, tăng 77,2%; ván ép từ gỗ đạt 130.955 m3, giảm 4,4%; viên gỗ đạt 23.536 tấn, tăng 6,0%; giấy Kraft đạt 3.530 tấn, giảm 3,5%; cao su tổng hợp và cao su tự nhiên đạt 795 tấn, tăng 114,1%; kính cường lực đạt 1.939 tấn, tăng 43,5%; clinker thành phẩm đạt 1.249.832 tấn, giảm 4,2%; xi măng đạt 718.253 tấn, giảm 2,4%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) đạt 304.743 m3, giảm 2,1%; thủy điện đạt 243 triệu kwh, giảm 19,7%; điện gió đạt 1.279 triệu kwh, giảm 15,1%; điện mặt trời đạt 283 triệu kwh, tăng 12,9%; điện thương phẩm đạt 1.138 triệu kwh, tăng 11,2%; nước máy thương phẩm đạt 16.442 nghìn m3, tăng 8,4%.4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp- Đăng ký kinh doanh doanh nghiệp:Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thực hiện cấp đăng ký thành lập mới giấy chứng nhận đăng ký cho 809 doanh nghiệp với số vốn hơn 6.800 tỷ đồng. Đến nay, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế khoảng 10.564 doanh nghiệp.Về lĩnh vực kinh tế tập thể, hợp tác xã, trên địa bàn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhiều mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã hoạt động hiệu quả và ngày càng được nhân rộng. Trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh thành lập mới 15 hợp tác xã, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Tính đến nay, toàn tỉnh có 04 liên hiệp hợp tác xã; 900 hợp tác xã đang hoạt động với tổng số thành viên 223.768 người, thu hút trên 8.762 lao động. Tổng số vốn hoạt động 12.518 tỷ đồng; Thu nhập bình quân đạt 3,5 - 4 triệu đồng/người/tháng; Các Quỹ tín dụng nhân dân tiếp tục kịp thời hỗ trợ vốn cho các thành viên để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, tạo việc làm tại chỗ, góp phần xây dựng nông thôn mới và hạn chế “tín dụng đen” trên địa bàn nông thôn. Có 48 hợp tác xã ngừng hoạt động chờ giải thể.- Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp:Dựa trên kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của một số doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn trong quý II năm 2026 cho thấy có 67,5% số doanh nghiệp nhận định rằng hoạt động sản xuất kinh doanh quý II năm 2026 ổn định và tốt hơn so với quý I năm 2026 (trong đó, có 24,4% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và có 43,1% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định) và có 32,5% doanh nghiệp cho rằng hoạt động sản xuất kinh doanh quý II năm 2026 khó khăn hơn so với quý I năm 2026. Dự báo quý III năm 2026, có 75,6% doanh nghiệp dự báo hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý III/2026 tốt hơn và giữ ổn định so với quý II năm 2026 (trong đó, có 31,7% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và có 43,9% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định), chỉ có 24,4% doanh nghiệp dự báo đến quý III năm 2026, tình hình sản xuất kinh doanh sẽ còn tiếp tục khó khăn hơn so với quý II năm 2026.5. Vốn đầu tưTrong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý và vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn: Trong quý II năm 2026 vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh ước đạt 18.577,0 tỷ đồng, tăng 31,3% so với quý trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh đạt 32.725,9 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước đạt 10.689,3 tỷ đồng, tăng 3,8%; khu vực ngoài nhà nước đạt 22.560,3 tỷ đồng, tăng 22,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 476,3 tỷ đồng, tăng 218,8% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tăng cao chủ yếu do một số dự án đang triển khai thực hiện như Dự án Nhà máy Điện gió Quảng Trị Win 1; Dự án Nhà máy Điện gió Quảng Trị Win 2; Dự án Khu công nghiệp Quảng Trị.Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý: Trong tháng 6 năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý ước đạt 888,1 tỷ đồng, tăng 28,4% so với tháng trước và tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý ước đạt 2.891,1 tỷ đồng, giảm 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn NSNN cấp tỉnh đạt 2.559,8 tỷ đồng, giảm 14,4%; vốn NSNN cấp xã đạt 331,3 tỷ đồng, tăng 70,4% so với cùng kỳ năm trước.6. Thương mại, dịch vụa) Tổng mức bán lẻ hàng hoáTrong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn ra sôi động. Nguồn cung hàng hóa ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân. Bước vào mùa du lịch hè cao điểm, lượng khách du lịch tăng đã kéo theo nhu cầu mua sắm, ăn uống, lưu trú, vui chơi giải trí tăng so với tháng trước. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp, siêu thị và cơ sở kinh doanh triển khai các chương trình khuyến mại, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng, góp phần thúc đẩy sức mua trên thị trường. Nhờ đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội địa phương.Quý II/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước giảm 0,3% so với quý trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ đó là: Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 12,9%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 13,0%; nhóm ô tô các loại ước tăng 14,9%; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước tăng 15,5%; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước tăng 16,0% so với cùng kỳ.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 11,6% so với cùng kỳ, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm tỷ trọng lớn, có tốc độ tăng cao 11,8% đóng góp tăng cao nhất 4,1 điểm phần trăm; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,3% đóng góp tăng 1,9 điểm phần trăm; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước tăng 11,3% đóng góp tăng 1,6 điểm phần trăm; nhóm xăng, dầu các loại tăng 11,5% đóng góp tăng 1,5 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa.b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hànhSáu tháng đầu năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Nhiều lễ hội, sự kiện văn hóa - du lịch được tổ chức với quy mô lớn, chất lượng phục vụ được nâng cao, thu hút lượng lớn khách du lịch đến tham quan và trải nghiệm. Nổi bật là các hoạt động chào Xuân Bính Ngọ, lễ hội đầu năm, các hoạt động trong dịp nghỉ lễ 30/4 - 01/5 như Tuần Văn hóa - Du lịch Quảng Trị 2026, Lễ hội ẩm thực Regal Legend và bia Camel, Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa, Lễ Thượng cờ “Thống nhất non sông”, các lễ hội ẩm thực, thể thao, chương trình nghệ thuật và hoạt động trải nghiệm du lịch cộng đồng. Đồng thời, các hoạt động quảng bá, kích cầu du lịch được đẩy mạnh, kết hợp với thời tiết thuận lợi và nhu cầu du lịch hè gia tăng đã tạo động lực thúc đẩy ngành du lịch tiếp tục khởi sắc.Các điểm du lịch lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng biển và đảo như Cồn Cỏ, Cửa Tùng - Cửa Việt cùng các tuyến du lịch hang động như Hang Sơn Đoòng, Hang Én, Hang Chỉ Huy,… tiếp tục thu hút đông đảo du khách tham quan, trải nghiệm. Đồng thời, việc mở rộng các sản phẩm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên đã góp phần kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng mức chi tiêu của du khách và thúc đẩy doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng cao so với cùng kỳ năm trước.- Dịch vụ lưu trú: Doanh thu dịch vụ lưu trú quý II/2026 tăng 50,7% so với quý trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ; tính chung 6 tháng đầu năm 2026 tăng 17,1% so với cùng kỳ. Số lượt khách lưu trú quý II/2026 tăng 39,2% so với quý trước và tăng 19,4% so với cùng kỳ; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 16,7% so với cùng kỳ. Ngày khách quý II/2026 tăng 48,1% so với quý trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 15,8% so với cùng kỳ.- Dịch vụ ăn uống: Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 6/2026 tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 19,0% so với cùng kỳ; quý II/2026 tăng 10,4% so với quý trước và tăng 19,4% so với cùng kỳ; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 17,1% so với cùng kỳ.- Du lịch lữ hành:Doanh thu hoạt động lữ hành quý II/2026 tăng 67,6% so với quý trước và tăng 19,2% so với cùng kỳ; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 16,9% so với cùng kỳ. Số lượt khách du lịch lữ hành quý II/2026 tăng 46,3% so với quý trước và tăng 18,9% so với cùng kỳ; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 15,5% so với cùng kỳ.c) Các ngành kinh doanh dịch vụSáu tháng đầu năm 2026, hoạt động du lịch và xây dựng trên địa bàn tiếp tục phát triển tích cực, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh doanh dịch vụ tăng trưởng khá. Lượng khách du lịch tăng đã kéo theo nhu cầu sử dụng các dịch vụ vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, ăn uống và chăm sóc sức khỏe gia tăng. Các khu vui chơi giải trí, nhà hàng, quán bar và các điểm dịch vụ phục vụ du lịch thu hút đông khách, nhất là trong các dịp lễ và mùa cao điểm du lịch hè. Đồng thời, hoạt động xây dựng dân dụng và hạ tầng diễn ra sôi động làm tăng nhu cầu đối với các dịch vụ hỗ trợ như san lấp mặt bằng, cho thuê máy móc thiết bị, vệ sinh công trình và cung ứng lao động thời vụ. Nhờ đó, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng khá so với cùng kỳ năm trước.Doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ quý II/2026 ước tăng 3,7% so với quý trước và tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động dịch vụ tiếp tục duy trì đà phục hồi ổn định, nhất là các ngành gắn với du lịch, tiêu dùng và xây dựng.Sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ ước tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 7,7%, đóng góp tăng 2,0 điểm phần trăm vào mức tăng chung; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 9,2%, đóng góp tăng 2,8 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 6,9%, đóng góp tăng 0,3 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 8,8%, đóng góp tăng 0,7 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 8,4%, đóng góp tăng 0,8 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ khác tăng 14,0%, đóng góp tăng 3,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành kinh doanh dịch vụ.d) Hoạt động vận tảiTính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 12,1% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách ước tăng 12,0%; vận tải hàng hóa ước tăng 12,4%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 11,7% so với cùng kỳ.Ước tính quý II/2026, số lượt hành khách vận chuyển tăng 2,0% so với quý trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 2,0% so với quý trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, số lượt hành khách vận chuyển ước tăng 11,9%; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 12,0% so với cùng kỳ.Ước tính quý II/2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 1,0% so với quý trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 1,0% so với quý trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tăng 12,3% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 12,5% so với cùng kỳ.đ) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la MỹGiá xăng dầu trong nước được điều chỉnh theo diễn biến của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới. Bên cạnh đó, thời tiết nắng nóng kéo dài làm nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt tăng cao, góp phần làm tăng giá một số nhóm hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, giá gạo giảm do bước vào thời kỳ thu hoạch, nguồn cung trên thị trường dồi dào. Những biến động trái chiều giữa các nhóm hàng hóa và dịch vụ đã tác động đến mặt bằng giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh. Kết quả, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2026 giảm 0,34% so với tháng trước; tăng 3,17% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,94% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước.So với tháng trước, CPI tháng 6/2026 giảm 0,34%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá, 2 nhóm giảm giá, 1 nhóm hàng ổn định. Cụ thể 8 nhóm hàng hóa tăng giá gồm nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,07%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,10%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,35%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm giáo dục tăng 0,01%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18%. Nhóm hàng hóa giảm giá gồm nhóm giao thông giảm 3,51%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,04%. Nhóm hàng ổn định: nhóm bưu chính viễn thông.Chỉ số giá vàng 99,99%: Giá vàng bình quân tháng 6/2026 giảm 7,75% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 14,116 triệu đồng/chỉ vàng 9999, tăng 80,08% so với kỳ gốc 2024, bình quân 6 tháng tăng 53,52% so với cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ (USD): Giá đô la Mỹ (USD) bình quân tháng 6/2026 là 26.414 VNĐ/USD, tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 6,54% so với kỳ gốc 2024, bình quân 6 tháng tăng 3,22% so với cùng kỳ.II. XÃ HỘI1. Y tếTrong 6 tháng đầu năm 2026, ngành y tế tỉnh Quảng Trị đã tập trung triển khai hiệu quả công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tình hình dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, không ghi nhận các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm A, các ổ dịch phát sinh được phát hiện, xử lý kịp thời, không để lây lan diện rộng. Tính từ đầu năm đến ngày 20/6/2026, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 133 trường hợp sốt xuất huyết; 213 trường hợp tay - chân - miệng; 1.382 trường hợp cúm; 258 trường hợp thủy đậu; 542 trường hợp tiêu chảy; 3 ca sởi; các trường hợp bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời.Công tác an toàn thực phẩm được tăng cường, các cơ quan chức năng đẩy mạnh kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh và chế biến thực phẩm. Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm tại xã Tân Lập, phường Đồng Hới, phường Đồng Thuận làm 150 người mắc, 104 người được điều trị tại các cơ sở y tế, không có trường hợp tử vong.Công tác phòng, chống HIV/AIDS tiếp tục được duy trì và triển khai hiệu quả. Tính đến ngày 20/6/2026, toàn tỉnh có 928 người nhiễm HIV được phát hiện, trong đó 284 người đã tử vong và 644 người đang còn sống. Nam giới chiếm 64,8% tổng số người nhiễm HIV, cao hơn nữ giới (35,2%). Trong 6 tháng đầu năm 2026, phát hiện 16 trường hợp nhiễm HIV, cập nhật 11 trường hợp nhiễm HIV/AIDS tử vong.2. Giáo dục, đào tạoNăm học 2025 - 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị tiếp tục triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở các cấp học; đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh và đạt nhiều kết quả tích cực.Giáo dục mầm non tiếp tục được củng cố, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ; duy trì vững chắc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, tăng cường công tác bảo đảm an toàn trường học. Giáo dục tiểu học triển khai hiệu quả chương trình mới, chú trọng nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh, tin học, kỹ năng sống và các hoạt động giáo dục toàn diện.Giáo dục trung học đạt nhiều kết quả nổi bật: Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh năm học 2025 - 2026 có 332 dự án tham gia; tại Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia, học sinh Quảng Trị đạt 6 giải (02 giải Nhì, 02 giải Ba, 02 giải Tư). Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT có 114/174 học sinh đạt giải (65,5%), gồm 01 giải Nhất, 32 giải Nhì, 37 giải Ba và 44 giải Khuyến khích. Kỳ thi học sinh giỏi lớp 9 và tuyển sinh học sinh giỏi lớp 12 tiếp tục đạt tỷ lệ giải cao.Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026 - 2027 được tổ chức với hơn 25.000 thí sinh đăng ký dự thi, thực hiện theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, với các phương thức tuyển sinh phù hợp. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 là kỳ thi đầu tiên thực hiện hoàn toàn theo chương trình mới, toàn tỉnh có khoảng 22.000 thí sinh dự thi tại hơn 60 điểm thi, được chuẩn bị chu đáo, bảo đảm an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế.Về đào tạo, năm học 2026 - 2027, Trường Đại học Quảng Bình tuyển sinh 910 chỉ tiêu hệ đại học (735 chỉ tiêu chính quy, 175 chỉ tiêu vừa học vừa làm), đồng thời tuyển sinh 550 chỉ tiêu đào tạo từ xa; tiếp tục triển khai công tác tuyển sinh đại học năm 2026.3. Hoạt động văn hóa, thể dục thể thaoTrong 6 tháng đầu năm 2026, lĩnh vực văn hóa của tỉnh Quảng Trị được triển khai đồng bộ, gắn với nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Công tác tuyên truyền, cổ động các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương được tổ chức hiệu quả; nổi bật là các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân, kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và tổ chức Lễ Thượng cờ “Thống nhất non sông” tại Di tích quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải.Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được quan tâm; tỉnh đã triển khai các nhiệm vụ về bảo vệ di tích, sưu tầm hiện vật, xây dựng các đề án phát huy giá trị di sản, đồng thời chuẩn bị các điều kiện tổ chức Lễ hội Vì Hòa bình năm 2026 nhằm quảng bá hình ảnh đất và người Quảng Trị.Lĩnh vực thể dục, thể thao của tỉnh Quảng Trị tiếp tục phát triển, phong trào thể dục thể thao quần chúng được đẩy mạnh gắn với Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Tỉnh đã tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2026, Lễ phát động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước; tổ chức tập huấn chuyên môn cho lực lượng hướng dẫn viên, cứu hộ bơi và triển khai các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Thể dục thể thao Việt Nam.Các giải thể thao quần chúng được tổ chức sôi nổi, tiêu biểu là Giải đua thuyền truyền thống “Lễ hội Thống nhất non sông” trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Quảng Trị lần thứ I (2025 - 2026), góp phần tạo không khí thi đua, nâng cao sức khỏe cộng đồng và phát triển phong trào thể thao trên địa bàn tỉnh.Bên cạnh đó, công tác đào tạo, huấn luyện thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì; các vận động viên được tạo điều kiện tham gia thi đấu, rèn luyện, từng bước nâng cao thành tích, góp phần quảng bá hình ảnh Quảng Trị trong lĩnh vực thể thao. Tính từ đầu năm đến ngày 20/6/2026, các đội tuyển thể thao thành tích cao tham gia thi đấu 22 giải thể thao quốc gia và quốc tế, đạt 218 huy chương các loại, gồm 49 HCV, 61 HCB, 108 HCĐ. Trong đó, có 03 giải Quốc tế đạt 07 huy chương, gồm 01 HCV, 03 HCB, 03 HCĐ và 02 giải Xã hội hóa đạt 02 HCĐ.4. Tình hình trật tự an toàn xã hội- An toàn giao thôngTình hình trật tự an toàn xã hội trong 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục được chú trọng; công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh được tăng cường. UBND tỉnh chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn giao thông, phục vụ nhu cầu đi lại của Nhân dân.Trong quý II/2026 (Tính từ 15/04/2026 đến 14/06/2026), trên địa bàn tỉnh xảy ra 72 vụ tai nạn giao thông, tất cả đều xảy ra trên đường bộ; làm chết 52 người, bị thương 48 người. So với cùng kỳ năm trước, tình hình tai nạn giao thông giảm 11 vụ, giảm 02 người chết và giảm 14 người bị thương. Luỹ kế 6 tháng năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 137 vụ tai nạn giao thông, giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Đường bộ 136 vụ giảm 26 vụ, đường sắt 01 vụ. Số người chết do tai nạn giao thông 107 người, giảm 01 người so với cùng kỳ; số người bị thương do tai nạn giao thông 101 người, giảm 9 người so với cùng kỳ.- Tình hình cháy nổTrong quý II trên địa bàn tỉnh xảy ra 24 vụ cháy, không có thiệt hại về người, tổng thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 2.945 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy tăng 09 vụ. Theo báo cáo của Công an tỉnh, 6 tháng năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 27 vụ cháy, tăng 16 vụ, với tổng giá trị thiệt hại 4.145,9 triệu đồng, giảm 18,06% so với cùng kỳ.5. Tình hình nổi bật khác về xã hộia) Lao động việc làmCông tác giải quyết việc làm cho người lao động là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng góp phần đảm bảo an sinh xã hội và tăng thu nhập cho người lao động. Tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục tổ chức rà soát nhu cầu về đào tạo nghề và việc làm để xây dựng kế hoạch đào tạo, cũng như tìm kiếm việc làm. Ban hành các Chương trình hành động giải quyết việc làm với mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Khuyến khích người dân vay vốn đi lao động ở nước ngoài. Chính sách hỗ trợ vay vốn tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm được triển khai thường xuyên, liên tục, số lượng khách hàng vay vốn nhiều, nhiều lao động được tiếp cận và thụ hưởng chính sách.UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch số 2482/KH-UBND ngày 27/5/2026 về việc thực hiện Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh”. Mục tiêu đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn, phấn đấu rút ngắn khoảng cách về tỷ lệ lao động qua đào tạo giữa khu vực nông thôn và thành thị, lấy người dân làm chủ thể phục vụ xây dựng nông thôn mới bền vững.b) Công tác an sinh xã hộiTrong quý II/2026, công tác an sinh xã hội luôn được chú trọng, đặc biệt là các đối tượng người nghèo, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người cao tuổi, đối tượng yếu thế trong xã hội. Giải quyết trợ cấp hàng tháng cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng là 309.289 triệu đồng, giảm 0,81% (-2.539 triệu đồng) so với quý trước, nguyên nhân giảm là do đối tượng người có công hàng tháng chết nên giảm chi trả. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP là 277.767,6 triệu đồng, tăng hơn cùng kỳ năm trước 6,6%. Cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) là 801.151 thẻ, tăng 21,47% (+141.615 thẻ) so với quý trước, tăng 54,78% (283.535 thẻ) so với cùng kỳ năm trước. Số thẻ BHYT cấp cho các đối tượng được ngân sách hỗ trợ/miễn phí tăng, chủ yếu do mở rộng nhóm đối tượng là người sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định 668 của tỉnh. Theo đó, toàn tỉnh được phê duyệt có 34 xã thuộc vùng III, làm gia tăng số lượng người thuộc diện được cấp thẻ BHYT.Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026 có xu hướng phát triển tích cực, đạt được những kết quả đáng ghi nhận; kinh tế ổn định và tăng trưởng khá, GRDP 6 tháng đầu năm ước tính tăng 8,10%; sản xuất vụ Đông Xuân được mùa; hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định; sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá; du lịch tăng trưởng nhanh. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động từ tình hình chính trị, kinh tế trên thế giới và trong nước đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.Trong thời gian tới, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các cấp, ngành và địa phương tiếp tục triển khai hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP 10,6%. Theo đó, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:- Quyết liệt triển khai hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thị, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; theo dõi, rà soát các chỉ tiêu để tham mưu tập trung chỉ đạo tạo chuyển biến toàn diện, tích cực lĩnh vực kinh tế; tiếp tục triển khai các nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và chủ động linh hoạt thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với điều kiện từng ngành, lĩnh vực, địa phương nhằm giải quyết căn cơ, có hiệu quả, cụ thể các yếu kém, điểm nghẽn, tập trung hỗ trợ các thành phần kinh tế đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.- Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và vốn các chương trình mục tiêu quốc gia; tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước; nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách gắn với trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.- Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp góp phần tăng thu ngân sách, đặc biệt là các nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn, nguồn thu còn tiềm năng; tiếp tục triển khai các giải pháp chống thất thu ngân sách, thu hồi nợ thuế.- Tập trung hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông kết nối các hành lang kinh tế Đông - Tây, phát huy lợi thế cảng biển và cửa khẩu quốc tế. Hạ tầng được xem là nền tảng tạo không gian phát triển mới, thu hút đầu tư và mở rộng thị trường.- Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ các loại quy hoạch phục vụ công tác xúc tiến đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án trọng điểm, các dự án có tính động lực, có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế.- Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên cả “3 trụ cột” là chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển.- Tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn, khó khăn vướng mắc liên quan đến cơ chế, chính sách, quy định hiện hành để huy động tối đa các nguồn lực, tích cực tìm kiếm và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới.- Tăng cường bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, tư pháp gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; tập trung xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số và xã hội số; Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh thông tin đối ngoại và hợp tác quốc tế.- Tiếp tục sắp xếp bộ máy đảm bảo “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”. Tập trung cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh.- Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm tốt hơn an sinh và phúc lợi xã hội./.[1] Nguồn: Báo cáo số 481/BC-CNTY ngày 25/6/2026 của Chi cục Chăn nuôi và Thú y
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 4 VÀ 4 THÁNG ĐẦU NĂM 2026
- 22/05/2026 13:55
I. KINH TẾ1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng 4/2026 trong điều kiện có nhiều thuận lợi và đạt được nhiều kết quả khả quan. Sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc lúa và cây hàng năm khác vụ Đông xuân, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt; chăn nuôi phát triển khá, dịch bệnh gia súc, gia cầm được kiểm soát. Sản xuất lâm nghiệp phát triển ổn định, tập trung công tác tuyên truyền bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. Hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản phát triển khá.Bên cạnh đó, đang còn có nhiều khó khăn, thách thức như dự báo thời tiết diễn biến bất thường, nắng nóng gay gắt xuất hiện sớm, gây áp lực lớn lên nguồn nước tưới cho lúa vụ Đông Xuân; dịch bệnh chăn nuôi tiềm ẩn nguy cơ bùng phát, đặc biệt trong bối cảnh thời tiết chuyển mùa; giá xăng, dầu, nguyên liệu đầu vào có xu hướng biến động tăng, làm giảm biên độ lợi nhuận cho người sản xuất,… gây ảnh hưởng lớn đối với hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh.a) Nông nghiệp- Trồng trọtTrong tháng 4/2026, vụ Đông xuân 2025 - 2026 đang trong giai đoạn then chốt, cây lúa và đa số các loại cây hoa màu đều sinh trưởng và phát triển tốt. Sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc lúa và cây hàng năm khác.Thời tiết trong tháng 4/2026 có nắng nóng kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ khô hạn, thiếu nước tưới cục bộ trên các cánh đồng lúa; một số diện tích bị chuột và sâu bệnh đã xuất hiện và gây hại, nguy cơ lây lan trên diện rộng. Tuy nhiên nhờ sự vào cuộc của chính quyền, chuẩn bị các tình huống sẵn sang nên các công trình thủy lợi phục vụ tưới, tiêu nước cho trồng trọt được đảm bảo, cung cấp nước đầy đủ cho lúa trổ bông trong các đợt nắng nóng đầu mùa; công tác chăm sóc lúa được bà con thực hiện sát sao, dự báo sâu bệnh được cơ quan chuyên môn cập nhật thường xuyên để hỗ trợ nông dân, giúp lúa trổ đều.Tính đến ngày 20/4/2026, ước tính diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân 2025 - 2026 toàn tỉnh thực hiện 84.962,9 ha, giảm 0,6% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng giảm chủ yếu ở cây lúa, ngô, khoai lang, lạc, đậu các loại với diện tích giảm 509,4 ha.+ Cây lúa: Diện tích cây lúa thực hiện 55.424,0 ha, giảm 0,1% so với vụ Đông Xuân năm trước, tương đương với diện tích giảm 76,8 ha (trong đó: 53,5 ha chuyển đổi qua trồng cây hàng năm khác; 23,3 ha trong kế hoạch chờ đền bù giải phóng mặt bằng, phục vụ xây dựng công trình ở một số địa phương).Hiện nay, diện tích lúa trà đầu, trà chính vụ đang ở giai đoạn chín sáp, trà muộn đang ôm đòng - trổ. Diện tích lúa đã trổ 49.846 ha, chiếm khoảng 90%. Dự kiến từ 25 tháng 4 bắt đầu thu hoạch.+ Cây trồng khác: Diện tích gieo trồng các loại cây trồng khác ước thực hiện 29.538,9 ha, giảm 1,4% so với vụ Đông Xuân năm trước. Trong đó: Cây ngô thực hiện 6.872,4 ha, giảm 3,3%; khoai lang 3.085,1 ha, giảm 3,2%; lạc 5.062,0 ha, giảm 4,6%; cây rau, đậu các loại 9.075,2 ha, tăng 0,2% so với vụ Đông Xuân năm trước.Diện tích cây ngô giảm 232,2 ha, nguyên nhân chủ yếu do giá giống ngô cao, một số xã điều kiện khó khăn không được cấp giống ngô; ngoài ra, một số địa phương trồng manh mún phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên năng suất thấp nên người dân bỏ hoang để cải tạo đất. Diện tích cây lạc giảm 241,4 ha, do chi phí trồng cao, 30% diện tích người dân chuyển qua trồng rau, phần còn lại chủ yếu đất khô cằn thiếu nước người dân bỏ hoang. Diện tích cây khoai lang giảm 102,6 ha, do giá khoai lang thấp không có lãi chủ yếu làm thức ăn gia súc nên người dân chuyển qua trồng cây hàng năm khác. Ngoài ra diện tích một số loại cây hàng năm khác giảm do thu hồi phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng như khu công nghiệp Vsip khoảng 49 ha, Cảng Mỹ Thủy khoảng 40 ha, đường Quốc lộ 15D khoảng 15 ha.Hình 1: Tiến độ gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông xuânTình hình sâu, bệnh trên cây trồng (tính đến ngày 15/4/2026):Trên cây lúa: Chuột gây hại với diện tích 818,5 ha; 1.062,0 ha bị bệnh khô vằn; 101,0 ha bị bệnh đạo ôn lá; 191,5 ha bị bệnh đốm nâu; 96,0 ha bị sâu cuốn lá nhỏ gây hại; 61,0 ha bị bệnh đen lép hạt; 67,0 ha bị bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng; 245,5 ha nhiễm bệnh do vi khuẩn (đốm sọc vi khuẩn, bạc lá);Trên ngô: Sâu keo mùa thu gây hại với diện tích 15,0 ha;Trên cây sắn: Bệnh khảm lá diện tích nhiễm 2.299,4 ha;Trên cây hồ tiêu: 170,0 ha bị bệnh tuyến trùng, 136,0 ha bị bệnh vàng lá chết chậm, 106,0 ha bị bệnh thán thư, 70,0 ha bị bệnh đốm lá, 21,0 ha bị vàng lá chết nhanh, 23,0 ha bị rệp sáp;Trên cây cà phê: 100,0 ha bị bệnh gỉ sắt, 555,0 ha bị bệnh thán thư, 392,0 ha bị bệnh khô cành, 180,0 ha bị rệp;Trên cây cao su: 127,0 ha bị loét sọc mặt cạo, 168,0 ha bị bệnh nứt vỏ xì mũ, 54,0 ha bị bệnh héo đen đầu lá, 731,0 ha bị bệnh phấn trắng, 75,0 ha bị bệnh khô cành rụng lá.Trong thời gian tới, để hoạt động trồng trọt vụ Đông xuân 2025- 2026 đạt hiệu quả cao, bền vững và nâng cao giá trị gia tăng thì cần thực hiện một số định hướng như sau:Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm và các giống cây trồng chịu nhiệt để ứng phó với tình trạng nắng nóng kéo dài. Khuyến khích chuyển đổi từ các diện tích trồng lạc, khoai lang hiệu quả thấp sang trồng rau màu hoặc các cây trồng hàng năm khác có giá trị kinh tế cao hơn.Tăng cường công tác kiểm tra, để dự báo tình hình sâu bệnh và có biện pháp sớm để xử lý dứt điểm các ổ dịch, không để lây lan trên diện rộng.Tập trung thu hoạch nhanh gọn vụ Đông xuân, để tránh các rủi ro thiên tai cuối vụ, cần huy động máy móc thu hoạch lúa trà đầu và trà chính vụ từ sau ngày 25/4 [1].- Chăn nuôiTháng 4/2026, chăn nuôi trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng ổn định và tiếp tục chuyển dịch theo hướng trang trại tập trung, an toàn sinh học. Đàn gia súc xu hướng giảm nhẹ, gia cầm phát triển ổn định, chăn nuôi lợn phục hồi tốt, nguồn cung sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được các địa phương triển khai hiệu quả; tuy nhiên, nguy cơ dịch bệnh vẫn tiềm ẩn và cần được theo dõi chặt chẽ.Tính đến ngày 30/4/2026, ước tính tổng đàn trâu có 46.045 con, giảm 4,8%; tổng đàn bò có 139.000 con, giảm 3,2% so với cùng thời điểm năm 2025. Đàn trâu, bò trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm chủ yếu do hiệu quả chăn nuôi của các nông hộ nhỏ lẻ chưa cao trong bối cảnh chi phí đầu vào như thức ăn, con giống và công chăm sóc tăng. Bên cạnh đó, một số hộ đã thu hẹp quy mô và chuyển sang các đối tượng nuôi khác có thời gian quay vòng nhanh hơn như gia cầm, hoặc chuyển sang hoạt động sản xuất khác. Ngoài ra, diện tích chăn thả và nguồn thức ăn tự nhiên ngày càng thu hẹp; cùng với tâm lý thận trọng của người chăn nuôi trước các rủi ro về dịch bệnh cũng góp phần làm giảm tổng đàn trong kỳ.Ước tính đàn lợn (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ) có 499.580 con, giảm 3,8% so với cùng thời điểm năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu do dịch tả lợn Châu Phi bùng phát vào giữa năm 2025 làm tổng đàn giảm mạnh. Hiện nay, nhờ các biện pháp kiểm soát dịch bệnh được triển khai kịp thời, chăn nuôi lợn đang từng bước phục hồi, người chăn nuôi đã bắt đầu tái đàn trở lại; tuy nhiên, mức tăng chưa đủ bù đắp thiệt hại do dịch bệnh gây ra.Ước tính đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) có 10.026 nghìn con, tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm 2025; trong đó đàn gà ước 7.992 nghìn con, tăng 2,6%. Đàn gia cầm tăng so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiệu quả kinh tế cao, thời gian nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh. Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ sản phẩm duy trì ổn định; công tác phòng, chống dịch bệnh được kiểm soát tốt, tạo điều kiện cho người chăn nuôi mở rộng quy mô và tái đàn. Ngoài ra, chăn nuôi theo hướng trang trại tiếp tục phát triển, mức độ áp dụng kỹ thuật và an toàn sinh học được nâng lên, góp phần thúc đẩy tổng đàn gia cầm tăng trong kỳ.Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 4/2026 ước đạt 13.283,6 tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 198,0 tấn, giảm 2,0%; thịt bò 1.044,0 tấn, tăng 2,5%; thịt lợn 8.095,0 tấn, tăng 2,2%; thịt gia cầm 3.946,6 tấn, tăng 3,6% (trong đó: Thịt gà 3.080,0 tấn, tăng 3,9%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm 16.026,3 nghìn quả, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thịt hơi xuất chuồng lũy kế 4 tháng năm 2026 ước đạt 54.449,5 tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 864,0 tấn, giảm 1,1%; thịt bò 4.275,0 tấn, tăng 5,0%; thịt lợn 32.838,0 tấn, tăng 2,9%; thịt gia cầm 16.472,5 tấn, tăng 4,6% (trong đó: Thịt gà 12.499,4 tấn, tăng 5,3%) so với cùng kỳ năm trước.Hình 2. Sản lượng thịt hơi xuất chuồngSản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng trên địa bàn tỉnh ước tăng so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ đàn lợn từng bước phục hồi sau dịch, đàn gia cầm tiếp tục phát triển tốt. Sản lượng thịt bò hơi tăng do các doanh nghiệp trên địa bàn ngày càng đẩy mạnh chăn nuôi theo quy mô tập trung, tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong chăm sóc, nuôi dưỡng, tăng tỷ lệ bò lai trên tổng đàn, qua đó nâng cao năng suất và trọng lượng xuất chuồng.Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm: Tính đến ngày 15/4/2026, cả tỉnh chỉ ghi nhận 02 ổ dịch tả lợn Châu Phi tại 2 xã (Vĩnh Linh và Bắc Trạch) với tổng số lợn tiêu hủy là 173 con, trọng lượng tiêu hủy 7.670 kg. Các ổ dịch được phát hiện và xử lý kịp thời không để lây lan trên diện rộng.Công tác thú y: Trong tháng, công tác thú y trên địa bàn các xã được triển khai tương đối đồng bộ và hiệu quả. Các địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi; tổ chức tiêm phòng định kỳ, thực hiện tiêu độc, khử trùng chuồng trại theo quy định. Công tác giám sát dịch bệnh được tăng cường, các trường hợp phát sinh nhỏ lẻ được phát hiện và xử lý kịp thời, không để lây lan diện rộng.Kế hoạch tiêm phòng vắc xin các loại cho đàn gia súc, gia cầm đợt 1 năm 2026 được triển khai từ tháng 3 đến tháng 5/2026; hiện nay, các địa phương đang khẩn trương thực hiện theo chỉ tiêu được giao [2].b) Lâm nghiệpTháng 4/2026, hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung tăng cường công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, chăm sóc rừng trồng tập trung. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã có nắng nóng gay gắt diễn ra trên diện rộng, nguy cơ xảy ra cháy rừng ở mức cao nên các cấp, các ngành cần nghiêm túc triển khai công tác bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, phòng và chống cháy rừng.Diện tích rừng trồng mới tháng 4/2026 ước đạt 1.201,0 ha, tăng 0,7%; luỹ kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.493,4 ha, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và diện tích khai thác gỗ tăng nên diện tích rừng trồng mới tháng 4 tăng so với cùng kỳ.Số cây lâm nghiệp trồng phân tán tháng 4/2026 ước đạt 297 ngàn cây, tăng 0,7 % so với cùng kỳ; luỹ kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.214 ngàn cây, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân, số cây lâm nghiệp trồng phân tán tăng nhẹ là do thời tiết những tháng đầu năm 2026 thuận lợi, phù hợp để trồng cây và bà con nhận thức được trồng cây phân tán mang giá trị kinh tế cao nên chuyển đổi loại cây trồng.Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng trong tháng 4/2026 ước đạt 46.421,0 m3, tăng 7,1%; luỹ kế 4 tháng ước đạt 471.781,1 m3, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Gỗ khai thác tăng chủ yếu từ rừng sản xuất, do một số diện tích rừng trồng đã đến kỳ khai thác, phục vụ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn.Nhu cầu tiêu thụ gỗ trên địa bàn những tháng đầu năm của các nhà máy chế biến đồ gỗ công nghiệp và bột gỗ những tháng đầu năm 2026 cao hơn so với cùng kỳ. Giá gỗ keo tăng nhẹ, dao động từ 1,2 - 1,5 triệu đồng/tấn, cao hơn năm trước là từ 1,0 - 1,3 triệu đồng/tấn. Mặc dù chi phí đầu tư tăng, nhưng với giá gỗ ổn định ở mức cao, việc trồng rừng vẫn là một ngành kinh doanh có lãi và đầy tiềm năng của tỉnh.Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Hiện nay, thời tiết bắt đầu vào mùa nắng, ngành lâm nghiệp đã xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm đôn đốc chủ rừng đẩy nhanh công tác vệ sinh rừng, xử lý thực bì phục vụ phòng cháy rừng trong mùa nắng nóng.Hình 3. Sản xuất lâm nghiệpc) Thủy sảnTháng 4/2026, hoạt động khai thác thủy sản diễn ra ổn định; hoạt động nuôi trồng thủy sản được tập trung đẩy mạnh vụ nuôi trồng thủy sản chính, trọng tâm là tôm thẻ chân trắng thâm canh/siêu thâm canh, áp dụng công nghệ cao tại các vùng ven biển. Diện tích thả nuôi mới dự kiến tăng đáng kể, chú trọng mô hình Biofloc và nuôi 3 giai đoạn để kiểm soát dịch bệnh.Ước tính sản lượng thủy sản tháng 4/2026 đạt 12.950,7 tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Cá đạt 10.362,3 tấn, tăng 2,9%; tôm đạt 871,4 tấn, tăng 2,4%; thuỷ sản khác đạt 1.717,0 tấn, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 43.660,1 tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Cá đạt 35.269,3 tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 3.187,8 tấn, tăng 2,4%; thủy sản khác đạt 5.203,0 tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước.Hình 4. Sản lượng thủy sản- Khai thácThời tiết tháng 4/2026 thuận lợi cho hoạt động khai thác thuỷ sản, nhu cầu tiêu thụ hải sản tăng khi mùa du lịch đã bắt đầu khởi động. Một số tàu cá tiếp tục vươn khơi, bám biển nhờ thời tiết tương đối thuận lợi, tuy nhiên, do ảnh hưởng xung đột Trung Đông, giá nhiên liệu leo thang, nên trong hoạt động khai thác sẽ gặp khó khăn; bên cạnh đó, nguồn lợi thủy sản đang dần suy giảm và lao động nghề cá thiếu hụt. Đồng thời, việc siết chặt quản lý khai thác (chống IUU) cũng ảnh hưởng nhất định đến cường độ khai thác.Sản lượng khai thác thủy sản tháng 4/2026 ước đạt 11.040,1 tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá ước đạt 9.163,3 tấn, tăng 2,9%; tôm ước đạt 220,8 tấn, tăng 1,9%; thủy sản khác ước đạt 1.656,0 tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng khai thác thủy sản 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 36.217,5 tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 30.573,3 tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 669,2 tấn, tăng 1,6%; thuỷ sản khác đạt 4.975,0 tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước.Công tác kiểm tra đăng ký, đăng kiểm tàu cá và các điều kiện đảm bảo an toàn phương tiện được chú trọng; việc thực hiện các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ được ngành nông nghiệp và các địa phương quan tâm. Ngành thủy sản địa phương đang chuyển dịch theo hướng bền vững, giảm áp lực khai thác tự nhiên, tăng cường nuôi trồng và ứng dụng khoa học kỹ thuật; đồng thời đẩy mạnh quản lý đội tàu và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.- Nuôi trồngTháng 4/2026, nuôi trồng thủy sản khá ổn định, thời điểm bước vào sản xuất vụ chính, đặc biệt là nuôi tôm theo khung lịch thời vụ đã ban hành. Người dân tích cực thả giống, cải tạo ao nuôi và áp dụng kỹ thuật mới, nhất là mô hình nuôi công nghệ cao, góp phần nâng cao năng suất và hạn chế dịch bệnh. Diện tích nuôi cơ bản được duy trì ổn định, sản xuất có xu hướng phát triển theo hướng thâm canh, an toàn sinh học.Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 4/2026 ước đạt 1.910,6 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng cá thu hoạch ước đạt 1.199,0 tấn, tăng 3,2%; tôm ước đạt 650,6 tấn, tăng 2,6%; thuỷ sản khác ước đạt 61,0 tấn, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng nuôi trồng thu hoạch 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.442,6 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 4.696,0 tấn, tăng 3,0%; tôm đạt 2.518,6 tấn, tăng 2,7%; thủy sản khác đạt 228,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.Sản xuất giống nước ngọt, mặn, lợ, hiện nay đã bước vào vụ sản xuất mới, các trang trại, cơ sở và doanh nghiệp đã tiến hành ươm giống sản xuất theo kế hoạch đề ra để đảm bảo đủ số lượng, chất lượng đạt yêu cầu. Ước tính 4 tháng, sản lượng con giống tôm thẻ ước khoảng 145,9 triệu con, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra còn một số con giống như: Cá trắm, cá chép, ba ba,... đang nuôi với quy mô nhỏ.Giá bán thủy sản (tôm, cá) nuôi trồng dự báo biến động giảm nhẹ do nguồn cung tăng cao; bên cạnh đó, chi phí đầu vào (thức ăn, giống, nhiên liệu) duy trì ở mức cao ảnh hưởng trực tiếp đến biên lợi nhuận của người nuôi. Đặc biệt, tháng 4 là giai đoạn chuyển mùa, thời tiết nắng nóng, gay gắt, dễ gây sốc cho thủy sản nuôi trồng; rủi ro dịch bệnh (đốm trắng, gan tụy trên tôm) cao khi môi trường nước biến động. vì vậy, trong tháng 4/2026, ngành nuôi trồng thủy sản Quảng Trị dự kiến đối mặt với chi phí sản xuất cao, rủi ro dịch bệnh và thị trường xuất khẩu biến động, đòi hỏi người nuôi chú trọng kỹ thuật và quản lý chi phí.2. Công nghiệpTình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 4 năm 2026 tiếp tục duy trì ổn định và đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Kết quả đạt được nhờ sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, cùng với sự hỗ trợ tích cực từ các cấp, các ngành đã giúp nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, duy trì hoạt động sản xuất ổn định, chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh và đảm bảo đơn hàng dài hạn. Một số ngành như: sản xuất đồ uống; sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Cũng trong tháng này, dự án nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I đã chạy thử, hòa lưới lần đầu thành công vào hệ thống điện quốc gia, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục hoàn thiện, tiến tới phát điện thương mại theo đúng tiến độ đã đề ra.Tháng 4 năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tỉnh Quảng Trị ước tính tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 7,3% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 2,3%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,7%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,8% so với cùng kỳ.Tính chung 4 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 4,0%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,2%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước.Hình 5. Chỉ số sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng năm 2026 của một số ngành cấp 2 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 86,5% (do nhu cầu thị trường tăng mạnh, nhiều đơn hàng mới từ Hồng Kông); ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 32,3%; ngành sản xuất đồ uống tăng 25,5%; ngành sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 15,7%; sản xuất trang phục tăng 15,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,8%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 8,1%; ngành sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 8,1%; ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 6,9%; ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,3%. Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước do chi phí sản xuất tăng, nguyên liệu đầu vào giảm, đơn hàng giảm như: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 16,8%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 13,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 10,7%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải giảm 2,9%.Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong 4 tháng năm 2026 so với năm trước: Quặng titan đạt 7.706 tấn, giảm 25,3%; đá xây dựng đạt 915.500 m3, tăng 9,9%; cao lanh đạt 18.259 tấn, giảm 50,5%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 5.772 tấn, giảm 46,4%; tinh bột sắn đạt 22.658 tấn, giảm 59,9%; bia đóng lon đạt 10.376 nghìn lít, tăng 58,3%; nước khoáng đạt 461 nghìn lít, tăng 41,0%; áo quần các loại (trừ áo sơ mi người lớn) đạt 13.334 nghìn cái, tăng 14,5%; áo sơ mi đạt 4.810 nghìn cái, tăng 9,2%; dăm gỗ đạt 473.563 tấn, tăng 66,7%; ván ép từ gỗ đạt 91.976 m3, tăng 5,1%; cao su tổng hợp và cao su tự nhiên đạt 231 tấn, tăng 68,7%; kính cường lực đạt 1.693 tấn, tăng 93,7%; clinker thành phẩm đạt 792.285 tấn, giảm 3,8%; xi măng đạt 445.578 tấn, giảm 4,1%; điện gió đạt 868 triệu kwh, giảm 21,7%; điện thương phẩm đạt 683 triệu kwh, tăng 10,2%; nước máy thương phẩm đạt 10.166 nghìn m3, tăng 6,9%.3. Vốn đầu tưTrong tháng 4 năm 2026, việc thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì, tập trung vào các công trình chuyển tiếp và một số dự án khởi công mới theo kế hoạch năm. Trước yêu cầu đẩy nhanh tiến độ giải ngân, các cấp, các ngành đã chủ động phối hợp rà soát, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, nhất là về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và đấu thầu; đồng thời chỉ đạo các chủ đầu tư, ban quản lý dự án nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện, đẩy nhanh hoàn thiện hồ sơ pháp lý, lựa chọn nhà thầu và tăng cường kiểm tra, giám sát tiến độ, chất lượng thi công. Nhờ đó, nhiều dự án thuộc các lĩnh vực trọng điểm như giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục và chỉnh trang đô thị tiếp tục được triển khai, góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Việc triển khai đồng bộ các dự án đầu tư công không chỉ thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn ngân sách mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực đến khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, qua đó tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của đầu tư công trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, do kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được giao thấp (chỉ bằng 70% so với năm 2025); kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 từ nguồn ngân sách Trung ương chưa được phân bổ nên vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý giảm so với cùng kỳ năm trước.Kết quả thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 4 như sau:Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 4 năm 2026 ước tính đạt 418,5 tỷ đồng, tăng 16,7% so với tháng trước và giảm 27,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 378,4 tỷ đồng, giảm 30,0%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 40,1 tỷ đồng, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 1.250,6 tỷ đồng, giảm 25,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.114,0 tỷ đồng, giảm 28,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 136,6 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước.Một số dự án lớn thực hiện trên địa bàn tỉnh: Dự án thành phần 1 - Đường ven biển thuộc dự án Đường ven biển và cầu Nhật Lệ 3; Dự án thành phần 2: Cầu Nhật Lệ 3 và đường hai đầu cầu; Dự án Đường ven biển kết nối hành lang kinh tế Đông - Tây, tỉnh Quảng Trị - giai đoạn 1; Dự án Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Quảng Bình (cơ sở 2); Dự án Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị - Tiểu dự án tỉnh Quảng Trị; Dự án Phát triển đô thị ven biển miền Trung hướng đến tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu thành phố Đông Hà; Hệ thống đường nối từ trung tâm thành phố đi sân bay Đồng Hới; Dự án thành phần 1: Đầu tư xây dựng Quốc lộ 15D đoạn từ Cảng Mỹ Thủy đến cao tốc Cam Lộ - La Sơn; Dự án thành phần 4: Đầu tư xây dựng Quốc lộ 15D - Giải phóng mặt bằng, tái định cư qua địa bàn xã Diên Sanh; Dự án San nền và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu tại Khu vực Trung tâm Cửa khẩu quốc tế La Lay (Giai đoạn 2); Dự án Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện tỉnh Quảng Trị (Big2); Dự án Đường nối từ cầu Thạch Hãn đến trung tâm phường An Đông, thị xã Quảng Trị; Dự án Tuyến đường kết nối cảng hàng không Quảng Trị với Quốc lộ 1; Dự án Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Dân Hóa; Dự án trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Đakrông; Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Hướng Phùng; Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Trạch.4. Thương mại, dịch vụa) Tổng mức bán lẻ hàng hoáTháng 4/2026 trùng với các kỳ nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4 - 01/5, vì vậy hoạt động mua sắm, nghỉ dưỡng và tham quan du lịch diễn ra sôi động, tạo điều kiện thuận lợi kích cầu tiêu dùng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, thời tiết chuyển sang mùa hè, nhu cầu đối với các mặt hàng may mặc, đồ dùng, dụng cụ và trang thiết bị gia đình tăng lên. Nguồn cung hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân. Nhờ đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 4/2026 tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ năm trước.Hình 6. Tổng mức bán lẻ hàng hóaTổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 4 ước tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ; hàng may mặc ước tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 16,3% so với cùng kỳ; nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục ước tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 10,6% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 14,7% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 13,2% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước tăng 2,8% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ; nhóm xăng, dầu các loại ước tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 13,2% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) ước tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 16,7% so với cùng kỳ; nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ; nhóm hàng hóa khác ước tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ.Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 11,6% so với cùng kỳ, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm tỷ trọng lớn, có tốc độ tăng cao 11,8% đóng góp tăng cao nhất 4,1 điểm phần trăm; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 12,6% đóng góp tăng 1,7 điểm phần trăm; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,3% đóng góp tăng 1,8 điểm phần trăm; nhóm xăng, dầu các loại tăng 11,2% đóng góp tăng 1,4 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa.b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hànhTrong tháng 4/2026, hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, ghi nhận mức tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Kết quả này có được từ hiệu ứng lan tỏa của chuỗi hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn như Ngày lễ Giỗ Tổ Hùng Vương; Ngày Giải phóng miền Nam (30/4) và Ngày Quốc tế Lao động (01/5), qua đó thu hút lượng lớn du khách đến tham quan, trải nghiệm.Đặc biệt, Tuần Văn hóa Du lịch Quảng Trị 2026 với chủ đề “Khởi động một mùa hè rực rỡ” đã trở thành điểm nhấn nổi bật trong tháng, với nhiều hoạt động quy mô, đa dạng như lễ hội văn hóa, ẩm thực, thể thao và các chương trình kích cầu du lịch. Sự kiện đã tạo nên không gian trải nghiệm sôi động, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và nâng cao sức hấp dẫn điểm đến. Đồng thời, tỉnh cũng đẩy mạnh kết nối với thị trường quốc tế thông qua chương trình khảo sát dành cho doanh nghiệp lữ hành và báo chí Hàn Quốc, mở ra cơ hội hợp tác và thu hút khách quốc tế trong thời gian tới.Bên cạnh đó, việc đưa vào khai thác các sản phẩm du lịch mới như du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, trải nghiệm thiên nhiên và du lịch golf đã góp phần đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và kéo dài thời gian lưu trú của du khách. Cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi và kỳ nghỉ lễ kéo dài, nhu cầu du lịch tăng cao, tạo động lực thúc đẩy doanh thu toàn ngành trong tháng.- Dịch vụ lưu trú:Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 4/2026 ước tăng 19,0% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ, 4 tháng đầu năm 2026 ước tăng 14,2% so với cùng kỳ.Hình 7. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uốngSố lượt khách lưu trú tháng 4/2026 ước tăng 13,0% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ, 4 tháng đầu năm 2026 ước tăng 13,9% so với cùng kỳ.Số lượt khách quốc tế lưu trú tháng 4/2026 ước tăng 6,2% so với tháng trước, tăng 72,9% so với cùng kỳ, 4 tháng đầu năm 2026 ước tăng 66,6% so với cùng kỳ.Ngày khách tháng 4/2026 ước tăng 16,1% so với tháng trước và tăng 10,9% so với cùng kỳ, 4 tháng đầu năm 2026 ước tăng 14,0% so với cùng kỳ.- Dịch vụ ăn uống:Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 4/2026 ước tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ, 4 tháng đầu năm 2026 ước tăng 14,6% so với cùng kỳ.- Du lịch lữ hành:Doanh thu hoạt động du lịch lữ hành tháng 4/2026 ước tăng 16,8% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ, 4 tháng đầu năm 2026 ước tăng 13,6% so với cùng kỳ.Số lượt khách du lịch lữ hành tháng 4/2026 ước tăng 9,3% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ, 4 tháng đầu năm 2026 ước tăng 11,8% so với cùng kỳ.Hình 8. Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hànhc) Các ngành kinh doanh dịch vụTrong tháng 4/2026, hoạt động tham quan, du lịch trên địa bàn duy trì đà tăng trưởng tích cực, cùng với đó là chuỗi hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn như Ngày Giải phóng miền Nam (30/4) và Ngày Quốc tế Lao động (01/5) góp phần thúc đẩy nhu cầu vui chơi, giải trí của người dân gia tăng. Các lĩnh vực như kinh doanh bất động sản; dịch vụ hành chính và hỗ trợ; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí bao gồm cho thuê xe có động cơ diễn ra sôi động và có xu hướng tăng trưởng khá. Nhờ đó, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ trong tháng 4/2026 tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ năm trước.Doanh thu hoạt động các ngành kinh doanh dịch vụ tháng 4/2026 ước tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 11,4% so với cùng kỳ, trong đó: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 10,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ; nhóm nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 32,0% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ khác ước tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước tăng 8,6% so với cùng kỳ. Trong đó nhóm dịch vụ khác tăng cao 5,7% đóng góp tăng cao nhất 2,8 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 9,3% đóng góp tăng 2,5 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 5,4% đóng góp tăng 1,7 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 28,9% đóng góp tăng 0,7 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của các ngành kinh doanh dịch vụ.d) Hoạt động vận tảiHoạt động vận tải tháng 4/2026 trùng với các kỳ nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4 - 01/5, do đó nhu cầu đi lại, tham quan, du lịch của người dân tăng cao; đồng thời, trong tháng nhiều công trình xây dựng và nhà dân triển khai thi công nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng. Nhờ vậy, doanh thu cũng như khối lượng vận chuyển, luân chuyển hành khách và hàng hóa trong tháng tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ năm trước.Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 4/2026 ước tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước tăng 11,7%; vận tải hàng hóa ước tăng 12,1%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước.Hình 9. Doanh thu hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tảiVận tải hành kháchTháng 4/2026, số lượt hành khách vận chuyển ước tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, số lượt hành khách vận chuyển ước tăng 11,6%; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước.Vận tải hàng hóaƯớc tính khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 4/2026 tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 khối lượng hàng hoá vận chuyển ước tăng 12,1%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước.đ) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la MỹGiá tiêu dùng tháng 4 năm 2026 tại tỉnh Quảng Trị có xu hướng tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do giá nhiên liệu như xăng, dầu, gas biến động tăng, giảm đột biến, tác động lan tỏa đến giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ. Bên cạnh đó, giá vật liệu xây dựng có xu hướng tăng do chi phí đầu vào tăng và nhu cầu xây dựng trong những tháng đầu năm duy trì ở mức cao. Các yếu tố trên đã làm cho Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 năm 2026 của tỉnh Quảng Trị tăng 0,63% so với tháng trước; tăng 3,21% so với tháng 12 năm trước; tăng 4,28% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 2,71% so với cùng kỳ năm trước.So với tháng trước, CPI tháng 04/2026 tăng 1,23%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm hàng tăng giá, 02 nhóm giảm giá, 01 nhóm hàng ổn định. Cụ thể 08 nhóm hàng hóa tăng đó là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,88%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,63%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,44%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18%; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,07%; nhóm giáo dục tăng 0,01%. Nhóm hàng hóa giảm là nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; nhóm giao thông giảm 1,26%. Nhóm hàng ổn định đó là: nhóm thuốc và dịch vụ y tế.Hình 10. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 02/2026 so với tháng trướcChỉ số giá vàng 99,99%Giá vàng bình quân tháng 04/2026 giảm 7,79% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 15,942 triệu đồng/chỉ vàng 9999, tăng 202,65% so với kỳ gốc 2024, bình quân 4 tháng tăng 69,87% so với cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ (USD)Giá đô la Mỹ (USD) bình quân tháng 04/2026 là 26.359 VNĐ/USD, tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 6,32% so với kỳ gốc 2024, bình quân 4 tháng tăng 3,79% so với cùng kỳ.5. Thu ngân sách Nhà nước, ngân hànga) Thu ngân sách Nhà nướcb) Ngân hàngII. XÃ HỘI1. Y tếĐầu tháng 4, các Trạm Y tế xã, phường trên địa bàn tỉnh Quảng Trị được kiện toàn theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập mới, bước vào giai đoạn vận hành chính thức dưới mô hình quản lý mới. Sau khi hoàn thành sắp xếp, hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở hoạt động thông suốt, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân; chất lượng dịch vụ từng bước được nâng lên. Công tác y tế dự phòng được chú trọng, ngành y tế tăng cường giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các bệnh truyền nhiễm, không để xảy ra dịch bệnh lớn trên địa bàn. Tình hình các bệnh truyền nhiễm đều được kiểm soát tốt, tính từ đầu năm đến ngày 17/04/2026, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 95 trường hợp sốt xuất huyết; 119 trường hợp tay - chân - miệng; 438 trường hợp cúm; 184 trường hợp thủy đậu; 104 trường hợp tiêu chảy, các trường hợp bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời.Công tác an toàn thực phẩm trong tháng 4 năm 2026 được chú trọng mạnh mẽ, không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm nào.Tháng 4 năm 2026, phát hiện 03 trường hợp nhiễm mới HIV, 01 trường hợp tử vong. Tính đến ngày 17/04/2026, số người nhiễm HIV toàn tỉnh là 923 người, trong đó tử vong 280 người, hiện tại 643 người nhiễm HIV đang còn sống. Nam giới có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn nữ giới (nam 64,8%; nữ 35,2%).Nhìn chung tình hình y tế trên địa bàn tỉnh trong tháng 4/2026 cơ bản ổn định, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân tiếp tục được duy trì hiệu quả.2. Giáo dục, đào tạoTrong tháng 4 năm 2026, ngành giáo dục tỉnh tiếp tục triển khai các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2025 - 2026, chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ và chuẩn bị các điều kiện cho kỳ thi tuyển sinh cuối năm học. Công tác bồi dưỡng chuyên môn được đẩy mạnh, với hơn 300 cán bộ quản lý, giáo viên tham gia các lớp tập huấn, khảo sát chuyên môn; đồng thời triển khai thí điểm nội dung giáo dục mới như trí tuệ nhân tạo trong một số cơ sở giáo dục. Tỉnh cũng ban hành kịp thời hướng dẫn tuyển sinh đầu cấp năm học 2026 - 2027, đảm bảo đúng quy định và phù hợp tình hình thực tế. Tuy nhiên, ngành giáo dục vẫn còn đối mặt với một số khó khăn, đặc biệt là tình trạng thiếu giáo viên ở một số cấp học, ảnh hưởng nhất định đến việc tổ chức dạy học. Nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt nhân lực, tỉnh dự kiến tuyển dụng khoảng 416 chỉ tiêu viên chức giáo dục, trong khi toàn tỉnh hiện vẫn còn thiếu trên 3.300 giáo viên ở các cấp học.Công tác dạy và học tháng 4/2026 tiếp tục được duy trì ổn định, các hoạt động kiểm tra, đánh giá, ôn tập cho học sinh cuối cấp được tăng cường.3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thaoa) Hoạt động văn hóaTrong tháng 4 năm 2026, hoạt động văn hóa, thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị diễn ra sôi nổi, gắn với nhiều sự kiện quy mô lớn, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân và góp phần quảng bá hình ảnh địa phương. Nổi bật là việc tổ chức Tuần Văn hóa – Du lịch Quảng Trị năm 2026 diễn ra từ ngày 24/4 đến 01/5 với chuỗi hoạt động phong phú như chương trình nghệ thuật khai mạc quy mô lớn, lễ hội ẩm thực với khoảng 100 gian hàng, không gian quảng bá sản phẩm OCOP, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, nhạc nước và phố đêm phục vụ người dân và du khách.Điểm nhấn của sự kiện là các màn bắn pháo hoa tầm thấp vào các ngày 24/4 và 30/4 cùng các chương trình nghệ thuật được đầu tư công phu, góp phần tạo dấu ấn mạnh mẽ trong dịp kỷ niệm 30/4 – 1/5.Bên cạnh đó, tỉnh cũng triển khai nhiều hoạt động xúc tiến du lịch, tọa đàm kết nối doanh nghiệp và khảo sát điểm đến nhằm thúc đẩy phát triển ngành du lịch theo hướng bền vững. Song song với đó, các hoạt động văn hóa mang tính định hướng lâu dài tiếp tục được quan tâm, như việc ra mắt bộ nhận diện “Lễ hội Vì Hòa bình 2026”, góp phần lan tỏa thông điệp hòa bình, nhân văn và quảng bá giá trị văn hóa, lịch sử đặc trưng của tỉnh.b) Hoạt động thể dục thể thaoTrong tháng 4 năm 2026, hoạt động thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh Quảng Trị diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo người dân tham gia. Các giải thể thao phong trào như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, chạy bộ… được tổ chức rộng khắp tại các địa phương, tạo không khí thi đua chào mừng các ngày lễ lớn. Phong trào rèn luyện thân thể tiếp tục được duy trì, tỷ lệ người dân tham gia tập luyện thường xuyên được giữ ổn định.Bên cạnh đó, một số hoạt động thể thao gắn với du lịch và trải nghiệm ngoài trời được triển khai, góp phần đa dạng hóa loại hình hoạt động và quảng bá hình ảnh địa phương. Công tác huấn luyện thể thao thành tích cao được duy trì, các đội tuyển tích cực tập luyện, chuẩn bị tham gia các giải thi đấu khu vực và toàn quốc. Tuy nhiên, cơ sở vật chất thể thao ở một số nơi còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc tổ chức các hoạt động quy mô lớn.Nhìn chung, lĩnh vực thể dục thể thao trong tháng tiếp tục phát triển tích cực, góp phần nâng cao sức khỏe, đời sống tinh thần và tăng cường sự gắn kết cộng đồng.4. Tình hình trật tự an toàn xã hội- An toàn giao thôngTháng 04 năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 24 vụ tai nạn giao thông, làm chết 19 người, bị thương 13 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn tăng 20% (+04 vụ), số người chết tăng 35,71% (+05 người), số người bị thương giảm 13,33% (-02 người). Tất cả các vụ tai nạn giao thông đều xảy ra trên đường bộ.- Tình hình cháy nổTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 09 vụ cháy, không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính 100 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy tăng 07 vụ.5. Tình hình nổi bật khác về xã hộiTrong tháng 4 năm 2026, đời sống dân cư tỉnh Quảng Trị cơ bản ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực khi hướng đến kỳ nghỉ lễ 30/4 - 1/5. Không khí chuẩn bị cho các hoạt động lễ hội, du lịch và sự kiện lớn trên địa bàn đã góp phần tạo sự phấn khởi trong nhân dân. Tỉnh đã tích cực đẩy mạnh quảng bá hình ảnh, tổ chức nhiều hoạt động thu hút du khách, qua đó tạo thêm việc làm tạm thời và tăng thu nhập cho người dân, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ, thương mại và du lịch.Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng của người dân có xu hướng tăng trong dịp lễ, các hoạt động mua sắm, vui chơi giải trí diễn ra sôi động hơn, góp phần kích thích thị trường hàng hóa phát triển. Công tác chuẩn bị phục vụ người dân và du khách được các ngành, địa phương quan tâm, góp phần đảm bảo đời sống dân cư ổn định trong dịp cao điểm.Trong tháng, tỉnh tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách an sinh xã hội; các chính sách hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng yếu thế, góp phần ổn định đời sống nhân dân. Việc giải quyết và chi trả các chế độ, chính sách cho các đối tượng thụ hưởng được thực hiện kịp thời, đúng quy định; đẩy mạnh chi trả không dùng tiền mặt, nâng cao hiệu quả quản lý, kịp thời cho khoảng 75,8 nghìn người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH và gần 16 nghìn người hưởng trợ cấp xã hội, với tỷ lệ chi trả qua tài khoản trên 88%./.[1] Nguồn: Báo cáo số 393/BC-TTBVTV ngày 23/4/2026 của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật[2] Nguồn: Báo cáo số 311/BC-CNTY ngày 24/4/2026 của Chi cục Chăn nuôi và Thú y
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 3 VÀ QUÝ I NĂM 2026
- 22/05/2026 13:39
Năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 của tỉnh Quảng Trị; đồng thời tạo nền tảng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển trong những năm tiếp theo của nhiệm kỳ. Trong đó, quý I năm 2026 là quý đầu năm, có vai trò bản lề, tạo động lực quan trọng để phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm đạt 10,6%.Trong không khí phấn khởi chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); đồng thời tích cực chuẩn bị các điều kiện để tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương triển khai quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội theo kế hoạch hành động đề ra. Qua đó, huy động và phát huy hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo khí thế và động lực thúc đẩy tăng trưởng ngay từ đầu năm, làm cơ sở để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của năm 2026 và các quý tiếp theo.Trọng tâm là tổ chức thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026; Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 09/12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phương hướng, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh năm 2026; Nghị quyết số 59/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 16/5/2025 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031; cùng Kết luận số 03-KL/TW ngày 23/02/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 46-CT/TW.Trong quý I năm 2026, việc triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình chính trị, kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; nhiều xung đột, chiến sự xảy ra tại một số khu vực; giá xăng dầu, giá vàng và một số hàng hóa trên thị trường thế giới biến động mạnh, tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước.Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn, tỉnh cũng có những thuận lợi cơ bản. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, tăng trưởng tiếp tục được thúc đẩy, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm; thời tiết nhìn chung thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, tỉnh tiếp tục kế thừa những kết quả quan trọng đã đạt được trong năm 2025, tạo tiền đề cho phát triển trong năm 2026.Đặc biệt, với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp cùng với sự đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh trong quý I năm 2026 cơ bản ổn định và đạt được một số kết quả tích cực trên các lĩnh vực, cụ thể như sau:I. KINH TẾKết quả ước tính một số chỉ tiêu chủ yếu quý I năm 2026:- Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh 2010 tăng 7,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,56%; khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 9,19% (riêng công nghiệp tăng 8,08%); khu vực dịch vụ tăng 8,11% so với cùng kỳ năm trước.- Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước.- Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 40.773,3 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước.- Sản lượng thủy sản đạt 30.709,4 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước.- Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh đạt 14.382,4 tỷ đồng, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước.- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước.Hình 1. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh quý I năm 20261. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm 2026 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, các địa phương tập trung triển khai gieo trồng theo đúng khung lịch thời vụ, các loại cây trồng vụ Đông Xuân sinh trưởng, phát triển tốt. Sản xuất chăn nuôi phát triển ổn định, không có dịch bệnh xảy ra. Sản xuất lâm nghiệp tập trung hưởng ứng phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” xuân Bính Ngọ 2026. Sản xuất thủy sản phát triển ổn định.a) Nông nghiệp* Trồng trọtƯớc tính diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông Xuân 2026 thực hiện 84.373,0 ha, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích gieo trồng các loại cây như sau:- Cây lúa thực hiện 54.889,8 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng lúa giảm, đặc biệt giảm mạnh ở một số địa phương (xã Cửa Việt, Gio Linh, Hiếu Giang) do nhà nước thu hồi diện tích đất phục vụ xây dựng hạ tầng đường cao tốc, sân bay; một số diện tích lúa các năm trước cho năng suất thấp, kém hiệu quả nên người dân chuyển qua trồng cây tràm với diện tích khoảng 170 ha.Để bảo đảm sản xuất vụ Đông Xuân năm nay diễn ra an toàn, hiệu quả, nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn đã được ban hành ngay từ đầu vụ. Trọng tâm là tuân thủ nghiêm lịch thời vụ, gieo trồng tập trung, đồng loạt sử dụng giống lúa chất lượng cao và tăng cường các biện pháp phòng trừ sinh vật gây hại. Tiến độ gieo trồng lúa cơ bản đúng thời vụ, các địa phương chủ yếu sử dụng giống lúa chất lượng cao, giống trung và ngắn ngày.Vụ Đông Xuân năm nay, trên địa bàn tỉnh có mô hình trồng lúa hữu cơ do công ty Thương mại Quảng Trị (Sepon Group) phối hợp với nông dân các xã: Hiếu Giang, Gio Linh, Vĩnh Linh, Hải Lăng thực hiện với gần 200 ha. Toàn bộ diện tích đều áp dụng phương pháp mạ khay, máy cấy, giúp đồng bộ hóa quy trình canh tác và nâng cao năng suất lao động, đồng thời thực hiện liên kết chuỗi giá trị, hỗ trợ 50% chi phí giống và vật tư đầu vào. Thực hiện Kế hoạch hành động số 2636/KH-UBND ngày 31/12/2025 của UBND tỉnh Quảng Trị về việc triển khai thực hiện Đề án “Sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050” trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Bắc Trung Bộ, Công ty TNHH Green Carbon Japan Việt Nam triển khai thực hiện 10.000 ha. Vụ Đông Xuân 2025 - 2026 thực hiện 6.000 ha tại các xã: Trường Ninh 800 ha, Quảng Ninh 700 ha, Ninh Châu 600 ha, Phú Trạch 150 ha, Bắc Trạch 150 ha, Tân Mỹ 200 ha, Trường Phú 300 ha, Vĩnh Thủy 800 ha, Gio Linh 900 ha, Bến Hải 400 ha, Triệu Bình 300 ha, Triệu Cơ 300 ha, Nam Cửa Việt 300 ha.- Các loại cây trồng khác thực hiện 29.483,2 ha, giảm 1,6% so với vụ Đông Xuân năm trước. Cụ thể diện tích gieo trồng một số cây trồng chính: Ngô 6.811,6 ha, giảm 4,1%; khoai lang 3.085,1 ha, giảm 3,2%; lạc 5.162,0 ha, giảm 2,7%; cây rau, đậu các loại 9.083 ha, tăng 0,3% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng một số cây trồng giảm so với vụ Đông Xuân năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu như: Diện tích ngô giảm do giá giống ngô cao, trồng manh mún phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, một số nơi năng suất thấp nên người dân bỏ hoang; diện tích lạc giảm do năng suất lạc trong những năm gần đây đạt thấp, không hiệu quả, nên người dân chuyển dần sang trồng các loại cây khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn; cây khoai lang giá thấp, hiệu quả kinh tế thấp nên người dân giảm trồng.Hình 2. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm vụ Đông XuânThời tiết trong những ngày gần đây có sương mù nhiều, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các loại sâu, bệnh hại phát triển, vì vậy cần theo dõi sát để phòng trừ kịp thời, đồng thời chăm sóc đảm bảo năng suất cây trồng đạt cao. Tình hình sâu, bệnh gây hại cây trồng (đến ngày 25/02/2026) như sau:- Cây lúa: Chuột gây hại tập trung ở các xã Hải Lăng, Nam Hải Lăng, Gio Linh, Vĩnh Thủy, Kim Phú, Bố Trạch với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 5%, nơi cao 10 - 20%, cục bộ trên 20%. Bệnh đạo ôn lá gây hại tập trung ở Hải Lăng, Nam Hải Lăng, Vĩnh Thủy với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 7%, nơi cao 10 - 20%, cục bộ 30 - 40%; cấp bệnh C1-3, C5; cục bộ nặng 1,5 ha trên các giống JO2, BĐR57. Ốc bươu vàng gây hại tập trung ở các xã Vĩnh Hoàng, Vĩnh Thủy, Kim Phú, phường Đồng Hới với tỷ lệ gây hại phổ biến 2 - 3 con/m2, nơi cao 5 - 7 con/m2. Bọ trĩ gây hại tập trung ở các xã Vĩnh Thủy, Kim Phú, Bắc Trạch với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 5%, nơi cao 7 - 10%. Tuyến trùng gây hại rễ tập trung ở xã Triệu Phong.- Cây ngô: Chuột gây hại tập trung ở xã Kim Phú, với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 4%. Sâu keo mùa thu gây hại ở các xã/phường Quảng Trị, Hải Lăng, Hiếu Giang, Cam Lộ, Tà Rụt,… với mật độ gây hại phổ biến 2 - 3 con/m2, nơi cao 5 - 7 con/m2; sâu tuổi 3 - 4.- Cây sắn: Bệnh khảm lá gây hại tập trung ở các xã Hải Lăng, Nam Hải Lăng, Vĩnh Hoàng, Cửa Tùng, Hướng Hóa,… tỷ lệ bệnh phổ biến 10 - 20%, nơi cao 30 - 50%; cấp 1 - 3.- Cây lạc: Sâu cuốn lá gây hại tập trung ở xã Ba Lòng với mật độ gây hại phổ biến 10 - 20 con/m2, nơi cao 40 con/m2; sâu tuổi 2, 3 [1].Cây lâu năm tiếp tục được người dân tập trung chăm sóc, đặc biệt là các loại cây có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, hồ tiêu và một số loại cây ăn quả. Trong quý I/2026, cây cao su chủ yếu đang trong thời kỳ thay lá, cuối quý (tháng 3) mới bắt đầu vào khai thác mủ nên sản lượng trong quý đạt thấp so với các quý khác trong năm. Thời tiết quý I thuận lợi, ít mưa, thời gian khai thác kéo dài nên sản lượng khai thác mủ cao su tăng so với cùng kỳ năm trước. Ước tính sản lượng mủ cao su quý I đạt 527 tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.* Chăn nuôiTrong quý I/2026, đàn vật nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không phát sinh dịch bệnh nguy hiểm; công tác phòng, chống dịch tiếp tục được triển khai hiệu quả, dịch bệnh được kiểm soát tốt. Đàn lợn sau thời gian bị ảnh hưởng bởi dịch tả lợn châu Phi đang từng bước tái đàn và phục hồi, góp phần duy trì ổn định hoạt động chăn nuôi. Đàn gia cầm phát triển thuận lợi.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 3/2026 đạt 12.473,7 tấn, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 217,8 tấn, giảm 2,5%; thịt bò 1.010 tấn, tăng 8,6%; thịt lợn 7.557 tấn, tăng 4,3%; thịt gia cầm 3.688,9 tấn, tăng 2,7% (trong đó: Thịt gà 2.810,9 tấn, tăng 4,4%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm ước đạt 14.633,7 ngàn quả, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý I/2026 đạt 40.773,3 tấn, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 666 tấn, giảm 0,9%; thịt bò 3.231 tấn, tăng 5,8%; thịt lợn 24.743 tấn, tăng 3,1%; thịt gia cầm 12.133,3 tấn, tăng 3,7% (trong đó: Thịt gà 9.419,4 tấn, tăng 5,7%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm quý I/2026 ước đạt 48.741,2 ngàn quả, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước.Hình 3. Sản lượng thịt hơi xuất chuồngSản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do công tác kiểm soát dịch bệnh được thực hiện tốt, không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm, tạo điều kiện cho sản xuất chăn nuôi ổn định và phát triển. Giá các sản phẩm chăn nuôi ổn định ở mức cao, người chăn nuôi duy trì và đẩy mạnh tái đàn, tăng đàn, nâng cao sản lượng xuất chuồng. Riêng chăn nuôi lợn, mặc dù tổng đàn vẫn thấp hơn cùng kỳ do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi trước đó, nhưng nhu cầu thị trường duy trì ở mức cao, giá lợn hơi bảo đảm có lãi; cùng với việc tăng cường xuất bán lợn đến kỳ thu hoạch và áp dụng hiệu quả các biện pháp nâng cao năng suất nên sản lượng thịt lợn hơi vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước.Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm: Tính đến ngày 12/3/2026, công tác thú y trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời, hiệu quả; không phát sinh dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. Ngành Thú y chủ động phối hợp với các địa phương và đơn vị liên quan theo dõi, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, kịp thời phát hiện và chỉ đạo phòng, chống các loại dịch bệnh nguy hiểm. Đồng thời, công tác tiêm phòng vắc-xin cho gia súc, gia cầm được triển khai đồng bộ tại tất cả các địa phương.b) Lâm nghiệpQuý I năm 2026, sản xuất lâm nghiệp tập trung thực hiện phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” xuân Bính Ngọ 2026; đồng thời triển khai kế hoạch trồng rừng năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Các địa phương đã rà soát hiện trạng và quỹ đất; thiết kế, xử lý thực bì, chuẩn bị đủ giống, vật tư phân bón; đồng thời hướng dẫn bà con trồng rừng đảm bảo tỷ lệ cây sống cao, góp phần tăng độ che phủ rừng nhằm thực hiện Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.Quý I/2026, thời tiết mát mẻ, có mưa ẩm, đảm bảo đạt tỷ lệ cây sống cao nên các đơn vị, hộ dân đẩy nhanh tiến độ trồng mới rừng vụ Xuân. Nguồn giống cây lâm nghiệp đáp ứng đầy đủ cho các chủ rừng, hộ dân trồng rừng. Ước tính diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 3/2026 đạt 1.152,2 ha, tăng 5,6%; quý I/2026 đạt 3.460,5 ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính sản lượng khai thác gỗ tháng 3/2026 đạt 135.125 m3, giảm 9,6%; quý I/2026 đạt 466.771 m3, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính sản lượng khai thác củi tháng 3/2026 đạt 22.142 ste, giảm 14,3%; lũy kế quý I/2026 đạt 62.742 ste, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước.Hình 4. Sản lượng khai thác lâm nghiệpCác ngành chức năng phối hợp với địa phương triển khai tốt công tác tuyên truyền ý thức bảo vệ, phòng, chống cháy rừng. Từ đầu tháng 01/2026 đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng và thiệt hại về rừng.c) Thủy sảnNhững tháng đầu năm 2026, thời tiết tương đối thuận lợi cho việc khai thác thủy sản, sản lượng khai thác thủy sản tăng. Tình hình dịch bệnh cơ bản kiểm soát tốt, các hộ nuôi trồng thủy sản tiếp tục thu hoạch sản phẩm nuôi trồng; đồng thời cải tạo, tu sửa, gia cố hồ, ao nuôi, bờ đê ruộng lúa để chuẩn bị cho vụ nuôi mới.Ước tính sản lượng thủy sản tháng 3 đạt 11.011,8 tấn, tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 9.037,0 tấn, tăng 5,3%; tôm đạt 778,6 tấn, tăng 2,4%; thủy sản khác đạt 1.196,2 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng thủy sản quý I đạt 30.709,4 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 24.907,0 tấn, tăng 2,5%; tôm đạt 2.316,4 tấn, tăng 2,4%; thủy sản khác đạt 3.486,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.* Khai thácQuý I năm nay, thời tiết trên biển khá thuận lợi, vì vậy sau thời gian nghỉ đón tết Nguyên đán, nhiều chủ tàu đã vươn khơi đánh bắt. Nhờ phương tiện đánh bắt được trang bị hiện đại, tổ chức tìm kiếm ngư trường hợp lý, công nghệ bảo quản sản phẩm trên tàu đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, giá trị kinh tế khai thác biển.Sản lượng khai thác thủy sản tháng 3 ước đạt 9.236,1 tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 7.939,0 tấn, tăng 5,7%; tôm đạt 155,4 tấn, tăng 2,8%; thủy sản khác 1.141,7 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng khai thác thủy sản quý I ước đạt 25.177,4 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 21.410,0 tấn, tăng 2,4%; tôm đạt 448,4 tấn, tăng 1,4%; thủy sản khác 3.319,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.Hình 5. Sản lượng thủy sản* Nuôi trồngQuý I/2026, thời điểm trùng vào dịp tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng thủy sản tăng, vì vậy đã thúc đẩy các hộ nuôi trồng tập trung chăm sóc, thu hoạch sản phẩm thủy sản; đồng thời làm sạch ao hồ để thả nuôi niên vụ mới trong năm. Theo đó, sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 3 ước đạt 1.775,7 tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 1.098,0 tấn, tăng 2,5%; tôm đạt 623,2 tấn, tăng 3,1%; thủy sản khác đạt 54,5 tấn, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng nuôi trồng thu hoạch quý I ước đạt 5.532,0 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 3.497,0 tấn, tăng 3,0%; tôm đạt 1.868,0 tấn, tăng 2,7%; thủy sản khác đạt 167,0 tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước.Tình hình sản xuất giống: Tỉnh tiếp tục chủ trương xây dựng các trung tâm nghiên cứu, sản xuất giống thủy hải sản trên địa bàn, đặc biệt việc ứng dụng công nghệ 4.0 giúp quản lý hiệu quả, giảm rủi ro, tăng năng suất, chất lượng, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và bền vững hơn. Tính đến cuối quý I/2026, sản lượng con giống tôm thẻ ước đạt 265,0 triệu con, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước.Trong thời gian tới, ngành thủy sản tiếp tục cơ cấu lại nghề khai thác theo hướng giảm khai thác ven bờ, nâng cao hiệu quả khai thác xa bờ; tăng cường bảo quản sau thu hoạch, nâng cao giá trị sản phẩm. Đẩy mạnh quan trắc môi trường, kiểm soát dịch bệnh, nhân rộng mô hình nuôi hiệu quả; tăng cường liên kết sản xuất - tiêu thụ và đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất, góp phần phát triển kinh tế biển bền vững năm 2026.2. Công nghiệpTrong tháng 3 và quý I năm 2026, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị duy trì xu hướng tăng trưởng khá. Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp dần ổn định sau kỳ nghỉ tết Nguyên đán, nhiều đơn vị đẩy mạnh sản xuất để thực hiện các đơn hàng đầu năm. Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng chung của toàn ngành, trong đó một số ngành có mức tăng trưởng tích cực trong quý I như ngành sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác;... Tuy nhiên, mức tăng trưởng giữa các ngành chưa đồng đều, một số lĩnh vực vẫn gặp khó khăn về thị trường và nguyên liệu. Nhìn chung, kết quả đạt được trong quý I tạo nền tảng thuận lợi để ngành công nghiệp phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026.Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 3/2026 tăng 24,3% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 23,3%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,8%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,6%.Tính chung quý I/2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 5,9%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,8%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,4%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước.Hình 6. Chỉ số sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất trong quý I/2026 của một số ngành cấp 2 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 18,4%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 17,9%; sản xuất trang phục tăng 11,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 8,5%; sản xuất đồ uống tăng 8,2%. Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 10,7%; khai thác quặng kim loại giảm 8,2%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 4,7%; sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 3,2%.Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong quý I/2026: Quặng titan đạt 5.930 tấn, giảm 33,3% so với cùng kỳ năm trước; đá xây dựng đạt 648.753 m3, tăng 17,0%; cao lanh đạt 19.444 tấn, giảm 29,0%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 5.917 tấn, giảm 15,1%; tinh bột sắn đạt 34.854 tấn, giảm 27,3%; bia đóng chai đạt 990 nghìn lít, tăng 13,8%; bia đóng lon đạt 6.718 nghìn lít, tăng 8,4%; nước khoáng đạt 216 nghìn lít, tăng 18,0%; áo quần các loại (trừ áo sơ mi người lớn) đạt 9.763 nghìn cái, tăng 15,7%; áo sơ mi đạt 3.564 nghìn cái, tăng 6,5%; dăm gỗ đạt 335.851 tấn, tăng 66,8%; ván ép từ gỗ đạt 58.783 m3, giảm 11,0%; viên gỗ đạt 9.047 tấn, tăng 0,7%; giấy Kraft đạt 1.363 tấn, giảm 31,3%; cao su tổng hợp và cao su tự nhiên đạt 179 tấn, tăng 36,4%; kính cường lực đạt 736 tấn, tăng 13,8%; clinker thành phẩm đạt 533.931 tấn, giảm 11,6%; xi măng đạt 350.743 tấn, tăng 4,4%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) đạt 143.767 m3, tăng 8,1%; thủy điện đạt 163,4 triệu kWh, giảm 20,0%; điện gió đạt 712,9 triệu kWh, giảm 16,3%; điện mặt trời đạt 92,8 triệu kWh, tăng 76,5%; điện thương phẩm đạt 476,3 triệu kWh, tăng 6,3%; nước máy thương phẩm đạt 7.275 nghìn m3, tăng 4,6%.Hình 7. Sản phẩm công nghiệp3. Vốn đầu tưTháng 3 và Quý I năm 2026, hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tiếp tục được triển khai tích cực, với nhiều dự án trọng điểm và công trình chuyển tiếp được đẩy nhanh tiến độ thi công. Các dự án hạ tầng giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục và chỉnh trang đô thị đang thực hiện đã góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhiều dự án trong lĩnh vực công nghiệp, năng lượng và dịch vụ tiếp tục tăng tốc thi công và đi vào giai đoạn hoàn thiện, tạo thêm năng lực sản xuất mới và mở rộng quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Việc triển khai đồng bộ các dự án không chỉ thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công mà còn lan tỏa, kích thích khu vực ngoài Nhà nước tham gia đầu tư. Các công trình đang thực hiện đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời nâng cao khả năng thu hút đầu tư trong thời gian tới. Qua đó, hoạt động đầu tư tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và ổn định an sinh xã hội của tỉnh trong những tháng đầu năm 2026.Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn: Vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh quý I năm 2026 ước tính thực hiện 14.382,4 tỷ đồng, giảm 34,7% so với quý trước và tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước đạt 4.861,0 tỷ đồng, tăng 27,3%; khu vực ngoài nhà nước đạt 9.232,8 tỷ đồng, tăng 114,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 288,6 tỷ đồng, tăng 192,1% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tăng cao chủ yếu do một số dự án đang triển khai thực hiện như Dự án Nhà máy Điện gió Quảng Trị Win 1; Dự án Nhà máy Điện gió Quảng Trị Win 2; Dự án Khu công nghiệp Quảng Trị.Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý: Trong tháng 3 năm 2026, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn NSNN do địa phương quản lý ước tính thực hiện 272,9 tỷ đồng, tăng 13,9% so với tháng trước và giảm 37,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn NSNN do địa phương quản lý thực hiện 736,3 tỷ đồng, giảm 32,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn NSNN cấp tỉnh thực hiện 640,3 tỷ đồng, giảm 36,8%; vốn NSNN cấp xã thực hiện 96,0 tỷ đồng, tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước.Một số dự án thực hiện trên địa bàn tỉnh: Dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I; Dự án Khu công nghiệp Cam Liên; Dự án Khu công nghiệp Tây Bắc Hồ Xá; Dự án Cảng hàng không Quảng Trị; Dự án Khu bến cảng Mỹ Thủy; Dự án Cảng tổng hợp quốc tế Hòn La; Dự án Nhà ga hành khách T2 và mở rộng sân đổ máy bay - Cảng hàng không Đồng Hới; Dự án Nhà máy Điện gió Quảng Trị Win 1; Nhà máy điện gió LIG Hướng Hóa 1; Nhà máy điện gió Hướng Phùng 1; Dự án thành phần 1 - Đường ven biển thuộc dự án Đường ven biển và cầu Nhật Lệ 3; Dự án thành phần 2: Cầu Nhật Lệ 3 và đường hai đầu cầu; Dự án Đường ven biển kết nối hành lang kinh tế Đông Tây, tỉnh Quảng Trị - giai đoạn 1; Dự án Đường tránh phía Đông thành phố Đông Hà (đoạn từ nút giao đường Nguyễn Hoàng đến Nam cầu sông Hiếu); Dự án Khu tái định cư xã Hải An (giai đoạn 2); Dự án Trung tâm Bảo trợ xã hội và Phục hồi chức năng dành cho Người khuyết tật tỉnh Quảng Trị; Dự án Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Quảng Bình (cơ sở 2); Dự án Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị - Tiểu dự án tỉnh Quảng Trị; Dự án Phát triển đô thị ven biển miền Trung hướng đến tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu thành phố Đông Hà; Dự án San nền và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu tại Khu vực Trung tâm Cửa khẩu quốc tế La Lay (Giai đoạn 2); Dự án Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Dân Hóa; Dự án trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Đakrông; Dự án Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Hướng Phùng; Dự án Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Trạch; Dự án Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện tỉnh Quảng Trị (Big2); Dự án Đường hai đầu cầu dây văng Sông Hiếu (Giai đoạn 1);...4. Thương mại, dịch vụa) Tổng mức bán lẻ hàng hoáQuý I/2026, hoạt động bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Thị trường nhìn chung ổn định, nguồn cung hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, giá cả không có biến động lớn. Nhu cầu mua sắm của người dân tăng trong dịp tết Nguyên đán và mùa lễ hội đầu năm đã góp phần thúc đẩy sức tiêu dùng trên địa bàn. Các nhóm hàng lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình, hàng hóa khác ghi nhận mức tăng khá cao. Bên cạnh đó, thương mại điện tử tiếp tục phát triển, góp phần mở rộng kênh tiêu thụ. Do đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa quý I/2026 ước tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước.Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 3/2026 ước giảm 6,2% so với tháng trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước giảm 6,0% so với tháng trước và tăng 14,6% so với cùng kỳ; hàng may mặc ước giảm 6,5% so với tháng trước và tăng 13,6% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước giảm 8,0% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ; nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục ước giảm 10,4% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước giảm 5,5% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước giảm 6,7% so với tháng trước và tăng 9,6% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước giảm 7,6% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước giảm 4,7% so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) ước giảm 6,8% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ; nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước giảm 5,0% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ; nhóm hàng hóa khác ước giảm 5,8% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước giảm 5,9% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ.Hình 8. Tổng mức bán lẻ hàng hóaTính chung quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 10,7% so với cùng kỳ, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm tỷ trọng lớn có tốc độ tăng cao 11,4%, đóng góp tăng cao nhất 4,0 điểm phần trăm; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 11,3%, đóng góp tăng 1,5 điểm phần trăm; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,6%, đóng góp tăng 1,7 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa.b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hànhQuý I/2026 diễn ra trong không khí sôi động của mùa lễ hội Xuân và dịp tết Nguyên đán, nhu cầu tham quan, du xuân, vui chơi giải trí của người dân và du khách tăng cao. Thời tiết tương đối thuận lợi, các hoạt động văn hóa - lễ hội được tổ chức an toàn, tiết kiệm, tạo điều kiện thúc đẩy du lịch phát triển. Các điểm đến trọng điểm trên địa bàn tỉnh tiếp tục thu hút lượng khách lớn như động Phong Nha, động Thiên Đường, Quảng trường Hồ Chí Minh, Khu Mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chùa Hoằng Phúc, núi Thần Đinh, Đền Công chúa Liễu Hạnh; cùng với các điểm bắn pháo hoa chào mừng năm mới tại phường Đồng Hới và phường Nam Đông Hà.Bên cạnh đó, việc thúc đẩy phát triển tam giác du lịch Cửa Tùng - Cửa Việt - Cồn Cỏ tiếp tục gia tăng sức hấp dẫn cho điểm đến, thu hút ngày càng nhiều du khách. Một số địa phương như xã Kim Phú, xã Vĩnh Linh và đặc khu Cồn Cỏ,… tiếp tục khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái gắn với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương. Do đó, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Ước tính quý I/2026, doanh thu dịch vụ lưu trú tăng 13,4%; doanh thu dịch vụ ăn uống tăng 14,6%; doanh thu du lịch lữ hành tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước.- Dịch vụ lưu trú:Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 3/2026 ước tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 13,7% so với cùng kỳ, quý I/2026 ước tăng 13,4% so với cùng kỳ.Hình 9. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uốngSố lượt khách lưu trú tháng 3/2026 ước tăng 5,9% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ, quý I/2026 ước tăng 13,1% so với cùng kỳ.Số lượt khách quốc tế lưu trú tháng 3/2026 ước tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 47,3% so với cùng kỳ, quý I/2026 ước tăng 51,2% so với cùng kỳ.Ngày khách tháng 3/2026 ước tăng 7,3% so với tháng trước và tăng 10,8% so với cùng kỳ, quý I/2026 ước tăng 15,4% so với cùng kỳ.- Dịch vụ ăn uống:Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 3/2026 ước giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ, quý I/2026 ước tăng 14,6% so với cùng kỳ.- Du lịch lữ hành:Doanh thu hoạt động lữ hành tháng 3/2026 ước tăng 22,8% so với tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ, quý I/2026 ước tăng 13,3% so với cùng kỳ.Số lượt khách du lịch lữ hành tháng 3/2026 ước tăng 13,2% so với tháng trước và tăng 12,0% so với cùng kỳ, quý I/2026 ước tăng 10,9% so với cùng kỳ.Số lượt khách quốc tế lữ hành tháng 3/2026 ước tăng 5,5% so với tháng trước và tăng 6,9% so với cùng kỳ, quý I/2026 ước tăng 10,0% so với cùng kỳ.Hình 10. Dịch vụ du lịch lữ hànhc) Các ngành kinh doanh dịch vụQuý I/2026, các hoạt động vui chơi, giải trí diễn ra sôi động, góp phần thúc đẩy các dịch vụ văn hóa, quảng cáo và tổ chức sự kiện tăng. Trong quý có tháng 02 trùng với dịp tết Nguyên đán, nên nhu cầu mua sắm, trang trí nhà cửa và chăm sóc cá nhân như làm đẹp, cắt tóc, làm móng tăng mạnh trong thời gian cận Tết. Thị trường bất động sản đầu năm có phần khởi sắc với một số giao dịch mua bán, cho thuê nhà ở tăng. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước tăng cường kiểm soát tín dụng vào lĩnh vực bất động sản và xu hướng tăng lãi suất cho vay mua nhà đã làm chi phí vay vốn cao hơn, qua đó ảnh hưởng đến nhu cầu mua thực và hạn chế hoạt động đầu tư ngắn hạn.Ước tính doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 3/2026 tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ. Các nhóm dịch vụ cụ thể như sau: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 7,7% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 15,0% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo ước tăng 11,6% so với tháng trước và tăng 14,3% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 4,3% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước giảm 12,3% so với tháng trước và tăng 34,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước tăng 7,9% so với tháng trước và tăng 8,7% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ khác ước tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 7,3% so với cùng kỳ.Tính chung quý I năm 2026, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ ước tăng 8,1% so với cùng kỳ. Trong đó, các nhóm có tốc độ tăng cao là: Nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 34,8% so với cùng kỳ, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 15,0% so với cùng kỳ, đóng góp 2,4 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 14,3% so với cùng kỳ, đóng góp 0,2 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 12,2% so với cùng kỳ, đóng góp 0,6 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của các ngành kinh doanh dịch vụ.d) Hoạt động vận tảiQuý I/2026, hoạt động vận tải đạt kết quả khá tích cực. Vận tải hành khách đạt tốc độ tăng khá, do đây là quý có tết Nguyên đán và mùa lễ hội Xuân nên nhu cầu đi lại của Nhân dân, học sinh, sinh viên tăng đáng kể. Bên cạnh đó, vận tải hàng hóa cũng tăng đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa phục vụ Tết làm cho doanh thu hoạt động vận tải hành khách cũng như hàng hóa tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước.Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 3/2026 ước giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ. Quý I/2026, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 10,6% so với quý trước và tăng 12,0% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách ước tăng 12,0%; vận tải hàng hóa ước tăng 12,3%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước.Hình 11. Doanh thu hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tảiVận tải hành khách: Tháng 3/2026, số lượt hành khách vận chuyển ước giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ. Quý I/2026, số lượt hành khách vận chuyển ước tăng 8,4% so với quý trước và tăng 12,0% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 8,3% so với quý trước và tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước.Vận tải hàng hóa: Tháng 3/2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ. Quý I/2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tăng 11,5% so với quý trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 11,3% so với quý trước và tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước.II. XÃ HỘI1. Y tếTrong quý I năm 2026, ngành y tế triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân; chủ động xây dựng kế hoạch, phân công trực 24/24 giờ tại các cơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt trong dịp tết Nguyên đán. Công tác phòng, chống dịch bệnh được tăng cường; hệ thống giám sát dịch tễ hoạt động thường xuyên, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp bệnh truyền nhiễm, không để xảy ra dịch bệnh nguy hiểm, bệnh mới nổi trên địa bàn. Lũy kế đến ngày 4/3/2026, toàn tỉnh ghi nhận 48 ca sốt xuất huyết, không có ca tử vong.Vệ sinh an toàn thực phẩm trong 3 tháng đầu năm được chú trọng đẩy mạnh, không xảy ra ngộ độc tập thể; công tác bảo đảm an toàn thực phẩm được tăng cường kiểm tra trước, trong và sau Tết, nhất là tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống.Phát hiện 05 trường hợp nhiễm mới HIV trong quý I. Tính đến ngày 20/02/2026, số người nhiễm HIV toàn tỉnh là 917 người, trong đó 278 người đã tử vong, 639 người còn sống; tỷ lệ nhiễm ở nam giới chiếm khoảng 65%.Các hoạt động bảo trợ xã hội trong lĩnh vực y tế, thăm hỏi, tặng quà bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng yếu thế được thực hiện kịp thời, thể hiện tinh thần nhân văn và trách nhiệm của ngành đối với cộng đồng.2. Giáo dục, đào tạoTrong quý I, ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Trị triển khai nhiệm vụ năm học 2025-2026 bảo đảm đúng tiến độ, duy trì ổn định nề nếp dạy và học trước, trong và sau Tết.Công tác chuyên môn đạt nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh có 114/174 học sinh đoạt giải Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT (65,5%), gồm 01 giải Nhất, 32 giải Nhì, 37 giải Ba và 44 giải khuyến khích, vượt chỉ tiêu đề ra. Ngành tổ chức sơ kết học kỳ I, triển khai nhiệm vụ học kỳ II; tiếp tục đẩy mạnh giáo dục STEM, chuyển đổi số trong quản lý và dạy học, triển khai học bạ số theo lộ trình.Công tác quản lý nhà nước được tăng cường; tham mưu ban hành Nghị quyết số 91/NQ-HĐND; xây dựng kế hoạch tuyển sinh đầu cấp năm học 2026–2027; tiếp tục sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập và rà soát, bố trí đội ngũ giáo viên. Công tác phổ cập giáo dục được kiểm tra tại 78 xã, phường, đặc khu, các tiêu chí tiếp tục được giữ vững; triển khai xây dựng 04 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới nhằm tạo điều kiện học tập cho học sinh vùng khó khăn.Nhìn chung, quý I năm 2026, ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Trị đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng thuận lợi để hoàn thành nhiệm vụ năm học.3. Hoạt động văn hóa, thể dục thể thaoCác hoạt động văn hóa trong quý I diễn ra sôi nổi, thiết thực chào Mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Công tác tuyên truyền cổ động trực quan được đẩy mạnh; nhiều chương trình văn nghệ, biểu diễn nghệ thuật quần chúng được tổ chức phục vụ nhân dân dịp trước, trong và sau Tết, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong dịp đầu năm.Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa tiếp tục được quan tâm. Hoạt động lễ hội đầu xuân được tổ chức trang trọng, tiết kiệm, an toàn, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được duy trì, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp với nhiều giải thi đấu mừng Xuân được tổ chức tại cơ sở như bóng chuyền, bóng đá, cầu lông và các trò chơi dân gian, thu hút đông đảo người dân tham gia.UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch tổ chức Lễ phát động Cuộc vận động Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” và Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2026. Công tác đào tạo, huấn luyện vận động viên thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì theo kế hoạch.4. Tình hình trật tự an toàn xã hội- An toàn giao thôngĐể đảm bảo trật tự an toàn giao thông trước, trong và sau dịp tết Nguyên đán năm 2026, lực lượng chức năng đã tổ chức tuần tra kiểm soát, bảo đảm trật tự an toàn giao thông, phòng ngừa tai nạn giao thông trên các tuyến giao thông thuộc địa bàn tỉnh. Trong quý I/2026 (tính đến ngày 14/02/2026), trên địa bàn tỉnh xảy ra 48 vụ tai nạn giao thông, làm chết 40 người, bị thương 44 người. So với cùng kỳ năm trước, tình hình tai nạn giao thông tháng 01 giảm nhưng tháng 02 tăng mạnh cả về số vụ, số người chết và số người bị thương. Tất cả các vụ tai nạn đều xảy ra trên đường bộ.- Tình hình cháy nổTrong quý I trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy (cháy trụ điện và cháy phương tiện vận tải), không có thiệt hại về người, tổng thiệt hại về tài sản ước tính hơn 1 tỷ đồng. Công tác phòng cháy, chữa cháy được tăng cường kiểm tra, hướng dẫn tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh và khu dân cư.5. Tình hình nổi bật khác về xã hộia) Lao động việc làmCông tác giải quyết việc làm luôn được tỉnh quan tâm, nhiều lao động có việc làm mới, ổn định, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao đời sống, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.Từ đầu năm đến nay, Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh đã tổ chức 16 phiên giao dịch việc làm; có 8.092 lượt người lao động được tư vấn việc làm, du học, học nghề và các chế độ, chính sách liên quan đến người lao động; giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng: 693 người. Thẩm định hồ sơ trình UBND tỉnh quyết định hỗ trợ 20 người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo Nghị quyết số 17/2021/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Bình và Nghị quyết số 119/2023/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Trị (cũ). Thẩm định hồ sơ và cấp giấy phép lao động cho 18 người lao động nước ngoài, trong đó: cấp mới: 12 trường hợp, cấp lại: 01 trường hợp, gia hạn: 05 trường hợp và xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 02 người lao động nước ngoài.b) Công tác an sinh xã hộiTrong quý I năm 2026, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Hoạt động sản xuất, kinh doanh được duy trì; thị trường hàng hóa trước, trong và sau tết Nguyên đán Bính Ngọ diễn ra sôi động, nguồn cung đảm bảo, không xảy ra biến động lớn về giá cả các mặt hàng thiết yếu.Thu nhập của người lao động nhìn chung ổn định; một bộ phận lao động thời vụ có thêm việc làm trong dịp trước Tết. Sau kỳ nghỉ Tết, các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhanh chóng trở lại bình thường. Công tác giải quyết việc làm tiếp tục được các địa phương quan tâm thực hiện.Các chính sách an sinh xã hội được triển khai đồng bộ, kịp thời. Nhân dịp tết Nguyên đán, tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội và người lao động có hoàn cảnh khó khăn. Thông qua chương trình “Nối vòng tay nhân ái” Xuân Bính Ngọ, đã trao 69.577 suất quà Tết; hỗ trợ sửa chữa 62 căn nhà; trao 506 suất học bổng; tổ chức 03 phiên “Chợ 0 đồng” với tổng trị giá hơn 77,1 tỷ đồng, góp phần đảm bảo mọi người, mọi nhà đều có điều kiện đón Tết vui tươi, đầm ấm.Công tác chi trả trợ cấp xã hội, trợ cấp ưu đãi, hỗ trợ thất nghiệp được thực hiện đầy đủ, đúng đối tượng, đúng thời gian. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.Tóm lại, mặc dù tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong quý I năm 2026 có xu hướng phát triển tích cực, song vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động từ tình hình kinh tế thế giới và trong nước đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong thời gian tới, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các cấp, ngành và địa phương tiếp tục triển khai hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP 10,6%. Theo đó, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:- Quyết liệt triển khai hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thị, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; theo dõi, rà soát các chỉ tiêu để tham mưu tập trung chỉ đạo tạo chuyển biến toàn diện, tích cực lĩnh vực kinh tế; tiếp tục triển khai các nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và chủ động linh hoạt thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với điều kiện từng ngành, lĩnh vực, địa phương nhằm giải quyết căn cơ, có hiệu quả, cụ thể các yếu kém, điểm nghẽn, tập trung hỗ trợ các thành phần kinh tế đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.- Xây dựng và triển khai có hiệu quả Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 và năm 2026; đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và vốn các chương trình mục tiêu quốc gia; tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước; nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách gắn với trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.- Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp góp phần tăng thu ngân sách, đặc biệt là các nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn, nguồn thu còn tiềm năng; tiếp tục triển khai các giải pháp chống thất thu ngân sách, thu hồi nợ thuế.- Làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục đầu tư, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, động lực, có tính lan tỏa, liên kết vùng, nhất là sân bay, cảng biển, khu công nghiệp, khu kinh tế, hạ tầng giao thông, dự án năng lượng tái tạo… Gắn đầu tư công với dẫn dắt và thu hút đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.- Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, với các sản phẩm đặc trưng; phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, giảm phát thải, thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm;- Phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn… Phát huy vai trò và chức năng các thành phần kinh tế, trọng tâm là thúc đẩy kinh tế tư nhân; tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).- Tăng cường bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, tư pháp gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; tập trung xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số và xã hội số; Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh thông tin đối ngoại và hợp tác quốc tế.- Tiếp tục tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, tổ chức vận hành chính quyền địa phương hai cấp hoạt động ổn định, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Triển khai thực hiện tốt công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.- Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm tốt hơn an sinh và phúc lợi xã hội./.[1] Nguồn: Báo cáo số 192/BC-TTBVTV ngày 25/02/2026 của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật
BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 02 NĂM 2026
- 20/05/2026 14:56
I. KINH TẾ1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng 02/2026 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, trời nắng ấm, có mưa rải rác giúp cây trồng, vật nuôi sinh trưởng, phát triển tốt. Chăn nuôi phát triển ổn định, cung ứng đủ sản phẩm chăn nuôi trước, trong và sau Tết. Sản xuất lâm nghiệp tập trung thực hiện phong trào Tết trồng cây, trồng rừng vụ Xuân. Sản xuất thủy sản trong tháng đạt thấp do ngư dân nghỉ khai thác đón tết Nguyên đán Bính Ngọ.a) Nông nghiệp- Trồng trọtThời tiết hai tháng đầu năm 2026 có mưa nhỏ, độ ẩm cao, khá thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông Xuân. Trong thời gian trước và sau Tết, các địa phương tranh thủ đẩy nhanh tiến độ nhằm đảm bảo đúng lịch thời vụ của ngành Nông nghiệp và Môi trường đã khuyến cáo. Theo đó, tiến độ gieo trồng các loại cây đảm bảo so với kế hoạch. Đến giữa tháng 02 (trước tết Nguyên đán), các địa phương đã cơ bản hoàn thành gieo trồng lúa Đông Xuân; các loại cây trồng khác như ngô, khoai lang, lạc, đậu, rau các loại,... tiếp tục thực hiện; dự kiến kết thúc gieo trồng vụ Đông Xuân vào cuối tháng 02.Ước tính đến hết tháng 02, tiến độ gieo trồng các loại cây vụ Đông Xuân thực hiện 84.373 ha, giảm 1,3% so với vụ Đông Xuân năm trước. Cụ thể như sau:- Cây lúa thực hiện 54.889,8 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng lúa giảm mạnh ở một số địa phương như xã Cửa Việt, Gio Linh, Hiếu Giang do Nhà nước thu hồi diện tích đất phục vụ xây dựng hạ tầng đường cao tốc, sân bay; một số diện tích lúa các năm trước cho năng suất thấp, kém hiệu quả nên người dân chuyển sang trồng cây tràm với diện tích khoảng 170 ha.- Các loại cây trồng khác thực hiện 29.483,2 ha, giảm 1,6% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng một số loại cây chủ yếu: Cây ngô 6.811,6 ha, giảm 4,1%; khoai lang 3.085,1 ha, giảm 3,2%; lạc 5.162,0 ha, giảm 2,7%; rau, đậu các loại 9.083,0 ha, tăng 0,3%; một số loại cây khác tổng diện tích ước tính 5.341,5 ha, tăng 0,4% so với vụ Đông Xuân năm trước.Diện tích một số cây trồng giảm so với vụ Đông Xuân năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu như sau: Diện tích ngô giảm do giống ngô cao, trồng manh mún, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, năng suất thấp nên người dân bỏ hoang; diện tích lạc giảm do năng suất lạc trong những năm gần đây đạt thấp, không hiệu quả nên chuyển dần sang trồng các loại cây khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn; cây khoai lang cho hiệu quả kinh tế thấp nên người dân cũng giảm trồng.Hình 1: Tiến độ gieo trồng một số cây hàng năm vụ Đông XuânCác loại cây trồng đang trong thời kỳ sinh trưởng, phát triển; tuy vậy, thời tiết về đêm nhiều sương, ngày nắng, độ ẩm cao là điều kiện để nhiều loại sâu, bệnh gây hại cây trồng xuất hiện. Tình hình sâu, bệnh gây hại cây trồng (đến ngày 25/02/2026) như sau:- Cây lúa: Chuột gây hại tập trung ở các xã Hải Lăng, Nam Hải Lăng, Gio Linh, Vĩnh Thủy, Kim Phú, Bố Trạch với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 5%, nơi cao 10 - 20%, cục bộ trên 20%. Bệnh đạo ôn lá gây hại tập trung ở Hải Lăng, Nam Hải Lăng, Vĩnh Thủy với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 7%, nơi cao 10 - 20%, cục bộ 30 - 40%; cấp bệnh C1-3, C5; cục bộ nặng 1,5 ha trên các giống JO2, BĐR57. Ốc bươu vàng gây hại tập trung ở các xã Vĩnh Hoàng, Vĩnh Thủy, Kim Phú, phường Đồng Hới với tỷ lệ gây hại phổ biến 2 - 3 con/m2, nơi cao 5 - 7 con/m2. Bọ trĩ gây hại tập trung ở các xã Vĩnh Thủy, Kim Phú, Bắc Trạch với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 5%, nơi cao 7 - 10%. Tuyến trùng rễ gây hại tập trung ở xã Triệu Phong.- Cây ngô: Chuột gây hại tập trung ở xã Kim Phú, với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 4%. Sâu keo mùa thu gây hại ở các xã/phường Quảng Trị, Hải Lăng, Hiếu Giang, Cam Lộ, Tà Rụt,… với mật độ gây hại phổ biến 2 - 3 con/m2, nơi cao 5 - 7 con/m2; sâu tuổi 3 - 4.- Cây sắn: Bệnh khảm lá gây hại tập trung ở các xã Hải Lăng, Nam Hải Lăng, Vĩnh Hoàng, Cửa Tùng, Hướng Hóa,… tỷ lệ bệnh phổ biến 10 - 20%, nơi cao 30 - 50%; cấp 1 - 3.- Cây lạc: Sâu cuốn lá gây hại tập trung ở xã Ba Lòng, với mật độ gây hại phổ biến 10 - 20 con/m2, nơi cao 40 con/m2; sâu tuổi 2, 3 [1].Tháng 02 năm 2026, nhiệm vụ trọng tâm của ngành trồng trọt là cần tập trung gieo trồng hết diện tích các loại cây hàng năm vụ Đông Xuân, đồng thời chăm sóc các loại cây đã gieo trồng, kịp thời phòng ngừa sâu bệnh hại cây trồng.- Chăn nuôiTháng 02/2026 trùng với dịp tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm, đặc biệt là các sản phẩm thịt lợn, gia cầm và trứng tăng cao. Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định; nguồn cung thực phẩm cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường trước, trong và sau Tết. Công tác chỉ đạo sản xuất, phòng, chống dịch bệnh và bình ổn thị trường tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm triển khai.Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 02/2026 ước đạt 14.493,9 tấn, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 236 tấn, tăng 11,6%; thịt bò 1.124 tấn, tăng 14%; thịt lợn 8.723 tấn, tăng 12,4%; thịt gia cầm 4.410,9 tấn, tăng 12,6% (trong đó: Thịt gà 3.445 tấn, tăng 13,9%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm 18.273 ngàn quả, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng sản phẩm chăn nuôi tháng 02/2026 ước tính tăng so với cùng kỳ năm trước do thời điểm tết Nguyên đán năm nay rơi vào tháng 02, không trùng với tháng 01 như năm trước. Vì vậy, nhu cầu tiêu thụ và hoạt động xuất chuồng trong tháng 02 cao hơn, dẫn đến sản lượng sản phẩm chăn nuôi tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước.Hình 2. Sản lượng thịt hơi xuất chuồngSản lượng thịt hơi xuất chuồng 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 27.676,1 tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thịt trâu đạt 450,2 tấn, tăng 0,3%; thịt bò đạt 2.186 tấn, tăng 3%; thịt lợn đạt 16.683 tấn, giảm 0,4%; thịt gia cầm đạt 8.356,9 tấn, tăng 3% (trong đó thịt gà đạt 6.481 tấn, tăng 4,2%). Sản lượng trứng gia cầm ước đạt 34.408 ngàn quả, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước.* Công tác thú y: Trong tháng 02/2026, công tác thú y trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời, hiệu quả; không phát sinh dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. UBND các xã, phường, đặc khu đã ban hành kế hoạch kiểm tra các điểm giết mổ động vật nhỏ lẻ trên địa bàn trước, trong và sau tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; đồng thời phối hợp tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các chủ cơ sở giết mổ thực hiện nghiêm các quy định về vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, không giết mổ động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh và tổ chức ký cam kết chấp hành các quy định của pháp luật trong hoạt động giết mổ.Thời gian tới, ngành chăn nuôi tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, tình hình tái đàn và dịch bệnh trên đàn vật nuôi; tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, kiểm soát vận chuyển và giết mổ; khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, nâng cao hiệu quả và đảm bảo nguồn cung thực phẩm ổn định cho thị trường.Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm (tính đến ngày 26/02/2026):- Dịch bệnh gia súc, gia cầm: không.- Dịch bệnh thủy sản: không [2].b) Lâm nghiệpTháng 02/2026, sản xuất lâm nghiệp tập trung vào các hoạt động hưởng ứng phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ 2026, cũng như tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng trong toàn tỉnh.Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 02/2026 ước đạt 826,3 ha, giảm 17,0% (do tháng 02 là tháng nghỉ tết Nguyên đán nên người dân trồng mới ít); lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.308,3 ha, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Sau thời gian nghỉ Tết, các địa phương, đơn vị và hộ dân trong toàn tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc, bảo vệ rừng, tiến hành đốt, dọn thực bì, đào hố, tuyển chọn cây giống, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng vụ Xuân.Sản lượng gỗ khai thác tháng 02/2026 ước đạt 110.326 m3, tăng 69,0%; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 331.646 m3, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước.Công tác bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, phòng và chống cháy rừng luôn được các cấp, các ngành triển khai thực hiện nghiêm túc. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng và thiệt hại về rừng.c) Thủy sảnTình hình khai thác và nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Khai thác thủy sản đạt sản lượng thấp do tháng này bà con nghỉ Tết, thời gian ra khơi khai thác thủy sản ít. Nuôi trồng thủy sản tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm phục vụ nhu cầu Tết cho người dân.Ước tính sản lượng thủy sản tháng 02/2026 đạt 9.806,0 tấn, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Cá đạt 7.927,0 tấn, giảm 2,5%; tôm đạt 766,4 tấn, tăng 2,6%; thuỷ sản khác đạt 1.112,6 tấn, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản trong 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 19.697,7 tấn, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Cá đạt 15.870,0 tấn, tăng 1,0%; tôm đạt 1.537,9 tấn, tăng 2,1%; thủy sản khác đạt 2.289,8 tấn, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước.Hình 4. Sản lượng thủy sản- Khai thácThời tiết tháng 02 năm nay thuận lợi, nhưng trùng vào thời điểm tết Nguyên đán nên nhiều ngư dân đang nghỉ Tết, thời gian ra khơi khai thác hải sản ít nên sản lượng khai thác giảm so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản khai thác tháng 02/2026 ước đạt 7.942,8 tấn, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 6.746,0 tấn, giảm 3,6%; tôm đạt 140,7 tấn, giảm 1,7%; thủy sản khác đạt 1.056,1 tấn, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng khai thác 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 15.941,4 tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 13.471,0 tấn, tăng 0,6%; tôm đạt 293,1 tấn, tăng 0,7%; thủy sản khác đạt 2.177,3 tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước.- Nuôi trồngTrong tháng 02 nuôi trồng thủy sản khá ổn định, thời tiết thuận lợi, ít dịch bệnh, các hộ nuôi trồng thủy sản tiếp tục thu hoạch sản phẩm trong và sau Tết nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; đồng thời cải tạo, tu sửa, gia cố ao hồ, bờ đê ruộng lúa để chuẩn bị cho vụ nuôi mới trong năm.Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch trong tháng 02/2026 ước đạt 1.863,2 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 1.181,0 tấn, tăng 4,4%; tôm đạt 625,7 tấn, tăng 3,6%; thủy sản khác đạt 56,5 tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.756,3 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 2.399,0 tấn, tăng 3,3%; tôm đạt 1.244,8 tấn, tăng 2,5%; thủy sản khác đạt 112,5 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước.2. Công nghiệpTháng 02/2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị diễn ra trong bối cảnh có kỳ nghỉ tết Nguyên đán tập trung trong tháng, làm giảm số ngày làm việc thực tế so với tháng trước. Tuy nhiên, với sự chủ động trong kế hoạch sản xuất và điều hành của doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất công nghiệp của tỉnh nhìn chung vẫn duy trì ổn định và tiếp tục ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành chủ lực như: Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; khai khoáng khác tăng; sản xuất trang phục,… giữ được nhịp độ tăng trưởng, góp phần tạo nền tảng tích cực cho kết quả 02 tháng đầu năm 2026.Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 02 giảm 11,0% so với tháng trước và tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 2,0%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,4%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 02 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 15,4%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,1%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước.Hình 5. Chỉ số sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất công nghiệp 02 tháng năm 2026 của một số ngành cấp 2 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 38,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 17,0%; khai khoáng khác tăng 16,2%; sản xuất trang phục tăng 15,7%; sản xuất đồ uống tăng 15,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 15,3%; khai thác quặng kim loại tăng 13,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 12,8%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 9,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 9,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,2%. Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 19,8% (Công ty CP Xenlulo Quảng Bình tạm dừng sản xuất thời gian ngắn để bảo dưỡng máy nghiền); sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 9,7% (nguồn nguyên liệu sắn đi vào cuối vụ nên sản lượng tinh bột sắn sản xuất giảm mạnh); hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm 4,7% (ngành hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm do Công ty TNHH Dự án Phát triển Việt Nam tạm dừng hoạt động để bảo dưỡng máy móc và đang chờ xin giấy phép hoạt động trở lại từ Sở Nông nghiệp và Môi trường); sản xuất và phân phối điện giảm 1,7% (một số dự án điện gió đạt sản lượng thấp do thời tiết không thuận lợi, tốc độ gió thay đổi đột ngột không đạt đến mức tối ưu).Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong 02 tháng năm 2026 so với năm trước: Quặng titan đạt 3.058 tấn, giảm 43,7%; đá xây dựng đạt 439.120 m3, tăng 27,9%; cao lanh đạt 11.358 tấn, giảm 31,2%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 3.828 tấn, giảm 23,4%; tinh bột sắn đạt 19.927 tấn, giảm 35%; bia đóng lon đạt 4.582 nghìn lít, tăng 9,1%; nước khoáng đạt 145 nghìn lít, tăng 19,9%; áo quần các loại (trừ áo sơ mi người lớn) đạt 5.721 nghìn cái, tăng 13,9%; áo sơ mi đạt 2.205 nghìn cái, tăng 3,0%; dăm gỗ đạt 239.601 tấn, tăng 90,7%; ván ép từ gỗ đạt 39.905 m3, giảm 4,6%; cao su tổng hợp và cao su tự nhiên đạt 169 tấn, tăng 39,6%; kính cường lực đạt 527 tấn, tăng 24,3%; clinker thành phẩm đạt 268.561 tấn, giảm 30%; xi măng đạt 217.835 tấn, tăng 7,4%; điện gió đạt 455 triệu kWh, giảm 27,8%; điện thương phẩm đạt 315 triệu kWh, tăng 8,9%; nước máy thương phẩm đạt 4.988 nghìn m3, tăng 5,3%.3. Vốn đầu tưTrong tháng 02 năm 2026, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tiếp tục được tập trung triển khai đối với các công trình chuyển tiếp từ năm trước; đồng thời các cấp, các ngành tăng cường phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện. Các chủ đầu tư, ban quản lý dự án được yêu cầu nâng cao trách nhiệm, đẩy nhanh hoàn thiện hồ sơ đấu thầu, thủ tục đầu tư, đảm bảo lựa chọn nhà thầu đủ năng lực; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát tiến độ, khối lượng thi công theo quy định.Tuy nhiên, tiến độ thực hiện vốn đầu tư trong tháng còn chậm và giảm so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là: kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được giao thấp (chỉ bằng dưới 45% so với năm 2025); kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 từ nguồn ngân sách trung ương chưa được phân bổ; tháng 02 trùng thời gian nghỉ tết Nguyên đán nên tiến độ thi công và giải ngân chậm; các sở, ban, ngành và địa phương đang tập trung phân bổ kế hoạch vốn và nhập dự toán chi cho các dự án.Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 02 năm 2026 ước tính đạt 229,6 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và giảm 32,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 200,1 tỷ đồng, giảm 35,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 29,5 tỷ đồng, tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 453,4 tỷ đồng, giảm 31,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 396,1 tỷ đồng, giảm 34,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 57,3 tỷ đồng, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước.Một số dự án thực hiện trên địa bàn tỉnh: Dự án thành phần 1 - Đường ven biển thuộc dự án Đường ven biển và cầu Nhật Lệ 3; Dự án thành phần 2: Cầu Nhật Lệ 3 và đường hai đầu cầu; Dự án Đường ven biển kết nối hành lang kinh tế Đông Tây, tỉnh Quảng Trị - giai đoạn 1; Dự án Đường tránh phía Đông thành phố Đông Hà (đoạn từ nút giao đường Nguyễn Hoàng đến Nam cầu sông Hiếu); Dự án Khu tái định cư xã Hải An (giai đoạn 2); Dự án Trung tâm Bảo trợ xã hội và Phục hồi chức năng dành cho Người khuyết tật tỉnh Quảng Trị; Dự án Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Quảng Bình (cơ sở 2); Dự án Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị - Tiểu dự án tỉnh Quảng Trị; Dự án Phát triển đô thị ven biển miền Trung hướng đến tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu thành phố Đông Hà; Dự án San nền và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu tại Khu vực Trung tâm Cửa khẩu quốc tế La Lay (Giai đoạn 2); Dự án Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Dân Hóa; Dự án Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Đakrông; Dự án Trường nội trú Tiểu học và THCS Hướng Phùng; Dự án Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Trạch; Dự án Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện tỉnh Quảng Trị (Big2); Dự án Đường hai đầu cầu dây văng sông Hiếu (Giai đoạn 1); Dự án Đường nối từ cầu Thạch Hãn đến Trung tâm phường An Đông, thị xã Quảng Trị; Dự án Tuyến đường kết nối cảng hàng không Quảng Trị với Quốc lộ 1.4. Thương mại, dịch vụa) Tổng mức bán lẻ hàng hoáTháng 02/2026 trùng với dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ nên nhu cầu chi tiêu, mua sắm của Nhân dân tăng mạnh so với tháng trước. Các siêu thị, trung tâm thương mại và cơ sở bán lẻ trên địa bàn tỉnh đã chủ động chuẩn bị lượng hàng hóa dồi dào với tỷ lệ ưu tiên hàng Việt Nam, nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết. Nhiều hệ thống phân phối tổ chức tăng lượng dự trữ hàng thiết yếu từ 20 - 40% so với các tháng kinh doanh bình thường; đồng thời triển khai các chương trình khuyến mại, giảm giá, kích cầu tiêu dùng trước và trong Tết.Bên cạnh đó, các ngành chức năng tăng cường công tác quản lý thị trường, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa, đầu cơ găm hàng hoặc tăng giá đột biến. Công tác kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm soát chất lượng hàng hóa được thực hiện chặt chẽ, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nhìn chung, với sự chuẩn bị chu đáo và các biện pháp bình ổn thị trường đã triển khai, tỉnh Quảng Trị đáp ứng đầy đủ nhu cầu mua sắm của người dân trong dịp Tết.Hình 6. Tổng mức bán lẻ hàng hóaTổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 02/2026 ước tăng 10,9% so với tháng trước và tăng 18,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 12,1% so với tháng trước và tăng 20,6% so với cùng kỳ; hàng may mặc ước tăng 12,4% so với tháng trước và tăng 20,0% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước tăng 11,2% so với tháng trước và tăng 20,3% so với cùng kỳ; nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục ước tăng 14,3% so với tháng trước và tăng 17,6% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 9,8% so với tháng trước và tăng 17,8% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước tăng 8,6% so với tháng trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước tăng 8,8% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước tăng 9,8% so với tháng trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) ước tăng 9,3% so với tháng trước và tăng 18,6% so với cùng kỳ; nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước tăng 6,6% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ; nhóm hàng hoá khác ước tăng 12,6% so với tháng trước và tăng 20,9% so với cùng kỳ; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước tăng 9,6% so với tháng trước và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 9,7% so với cùng kỳ, trong đó chiếm tỷ trọng lớn và tăng cao là nhóm lương thực, thực phẩm tăng 9,8%; nhóm hàng may mặc tăng 10,1%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 10,7%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước.b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hànhNhu cầu tham quan, du lịch đầu Xuân Bính Ngọ 2026 tăng cao, góp phần làm hoạt động du lịch trên địa bàn diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách. Tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, các tour khám phá, mạo hiểm đón những đoàn khách đầu tiên tham quan động Phong Nha, động Thiên Đường. Các điểm du lịch tâm linh, lịch sử như Khu Mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thành Cổ Quảng Trị, Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải,… cũng thu hút lượng lớn người dân và du khách đến tham quan, dâng hương. Chuỗi hoạt động “Chào Xuân Bính Ngọ 2026” được tổ chức đồng loạt với các chương trình bắn pháo hoa, hội bài chòi, hội chợ hoa Xuân, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trên toàn tỉnh. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trong tháng 02/2026 tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước.- Dịch vụ lưu trú:Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 02/2026 ước tăng 2,0% so tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 12,5% so với cùng kỳ.Hình 7. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uốngSố lượt khách lưu trú tháng 02/2026 ước tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 12,0% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 12,5% so với cùng kỳ.Số lượt khách quốc tế lưu trú tháng 02/2026 ước tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 51,4% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 52,9% so với cùng kỳ.Ngày khách tháng 02/2026 ước tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 17,7% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 17,9% so với cùng kỳ.- Dịch vụ ăn uống:Tháng 02/2026, doanh thu dịch vụ ăn uống ước tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 15,7% so với cùng kỳ, do nhu cầu ăn uống trong dịp du Xuân tăng; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 14,0% so với cùng kỳ.- Du lịch lữ hành:Doanh thu hoạt động lữ hành tháng 02/2026 ước tăng 41,5% so với tháng trước và tăng 6,5% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 10,3% so với cùng kỳ.Số lượt khách du lịch lữ hành tháng 02/2026 ước tăng 30,4% so tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 6,9% so với cùng kỳ.Hình 8. Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hànhc) Các ngành kinh doanh dịch vụTrong tháng 2/2026, cùng với hoạt động du Xuân, đón Tết Bính Ngọ của Nhân dân, nhiều hoạt động vui chơi, giải trí được tổ chức sôi động góp phần thúc đẩy doanh thu khu vực dịch vụ tăng so với cùng kỳ năm trước.Ước tính doanh thu hoạt động các ngành kinh doanh dịch vụ tháng 02/2026 tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 9,1% so với cùng kỳ. Xét theo từng nhóm ngành, nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 4,1% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước giảm 2,1% so với tháng trước và tăng 6,1% so với cùng kỳ; nhóm nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước tăng 9,5% so với tháng trước và tăng 38,1% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước giảm 5,6% so với tháng trước và tăng 4,9% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ khác ước tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 23,0% so với cùng kỳ.Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí tăng cao 38,1%; nhóm dịch vụ khác tăng 23,0% là các lĩnh vực có mức tăng trưởng nổi bật, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của khu vực dịch vụ.d) Hoạt động vận tảiHoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh trong tháng 02/2026 diễn ra sôi động và nhộn nhịp, đây là tháng trùng vào thời điểm nghỉ tết Nguyên đán 9 ngày liên tục, nhiều doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể vận tải hành khách đã đăng ký thêm chuyến nhằm phục vụ kịp thời nhu cầu về quê đón Tết của người dân sinh sống và làm việc xa quê. Hoạt động vận tải hàng hóa cũng tăng đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá phục vụ tết Nguyên đán. Nhờ đó, doanh thu cũng như khối lượng vận chuyển, luân chuyển hành khách và hàng hóa trong tháng 02/2026 tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ năm trước.Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 02/2026 ước tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước tăng 11,3%; vận tải hàng hóa ước tăng 11,7%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước.Hình 9. Doanh thu hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tảiVận tải hành kháchƯớc tính tháng 02/2026, số lượt hành khách vận chuyển tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,0% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,0% so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, số lượt hành khách vận chuyển ước tăng 11,2%; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước.Vận tải hàng hóaƯớc tính khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 02/2026 tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 13,2% so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tăng 11,7%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước.đ) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la MỹTháng 02 là tháng trùng với dịp tết Nguyên đán nên hầu hết các mặt hàng đều tăng giá, đặc biệt là các mặt hàng như lương thực, thực phẩm; giá điện; giá xăng dầu và giá một số mặt hàng dịch vụ khác,… Các yếu tố trên đã tác động đến Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Quảng Trị tháng 02 năm 2026 tăng 1,31% so với tháng trước; so với tháng 12 năm trước tăng 1,47%; so với tháng cùng kỳ năm trước tăng 2,37%; tính chung 2 tháng đầu năm 2026 CPI tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước.Hình 10. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 02/2026 so với tháng trướcSo với tháng trước, CPI tháng 02/2026 tăng 1,31%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá, 01 nhóm giảm giá, 02 nhóm hàng ổn định. Cụ thể: 8 nhóm hàng hóa tăng đó là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,10% so với tháng trước; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,84%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,78%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,71%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,92%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,17%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; nhóm giao thông tăng 0,93%. Nhóm hàng hóa giảm là nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,07%. Có 2 nhóm hàng ổn định đó là: nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm giáo dục.Chỉ số giá vàng 99,99%Giá vàng bình quân tháng 02/2026 tăng 11,53% so với tháng trước, dao động quanh mức 16,91 triệu đồng/chỉ vàng 99,99%, tăng 115,01% so với kỳ gốc 2024, bình quân 2 tháng tăng 77,91% so với cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ (USD)Giá đô la Mỹ (USD) bình quân tháng 02/2026 là 26.162 VND/USD, giảm 0,84% so với tháng trước, tăng 5,52% so với kỳ gốc 2024, bình quân 2 tháng tăng 4,32% so với cùng kỳ.5. Thu ngân sách Nhà nước, ngân hànga) Thu ngân sách Nhà nướcTổng thu ngân sách trên địa bàn 2 tháng đầu năm 2026 ước tính thực hiện 2.390,2 tỷ đồng, đạt 19,0% dự toán Trung ương giao, đạt 17,6% dự toán địa phương giao và tăng 16,1% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa thực hiện 2.074,2 tỷ đồng, đạt 21,3% dự toán Trung ương giao, đạt 19,3% dự toán địa phương giao và tăng 17,1% so với cùng kỳ; thu thuế xuất nhập khẩu thực hiện 316,0 tỷ đồng, đạt 11,1% dự toán Trung ương giao và tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước.Trong tổng số thu cân đối ngân sách 02 tháng đầu năm 2026, có 8/17 khoản thu đạt tiến độ (16,7%) so với dự toán năm của tỉnh là thu từ doanh nghiệp Nhà nước Trung ương; doanh nghiệp Nhà nước địa phương; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thu ngoài quốc doanh; thuế thu nhập cá nhân; thu lệ phí trước bạ; thu phí, lệ phí; thu cấp quyền khai thác khoáng sản. Còn lại 9 khoản chưa đạt tiến độ của dự toán năm.b) Ngân hàng- Hoạt động huy động vốnĐến 28/02/2026, nguồn vốn huy động tại địa bàn ước tính đạt 141.449 tỷ đồng, tăng 1,6% so với đầu năm, tăng 1% so với tháng trước.- Hoạt động tín dụngĐến 28/02/2026, tổng dư nợ ước tính đạt 170.130 tỷ đồng, tăng 1% so với đầu năm.II. XÃ HỘI1. Y tếTrong tháng 02/2026, ngành Y tế tỉnh Quảng Trị tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân, đặc biệt trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ. Công tác phòng, chống dịch bệnh được tăng cường; các bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, cúm A, sởi được giám sát chặt chẽ, toàn tỉnh ghi nhận 04 ca sốt xuất huyết trong 9 ngày Tết, không có ca tử vong. Các cơ sở khám, chữa bệnh duy trì trực 24/24 giờ, bảo đảm đầy đủ thuốc, máu, vật tư y tế và phương án cấp cứu tai nạn giao thông, ngộ độc thực phẩm. Tổng số lượt khám bệnh trong 9 ngày Tết đạt 4.931 lượt, 1.804 bệnh nhân nhập viện điều trị; không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể. Công tác an toàn thực phẩm được đẩy mạnh kiểm tra, giám sát trước, trong và sau Tết. Bên cạnh đó, ngành Y tế thực hiện tốt các hoạt động an sinh xã hội, thăm hỏi, tặng quà bệnh nhân và đối tượng bảo trợ, góp phần bảo đảm Nhân dân đón Tết vui tươi, an toàn và lành mạnh.2. Giáo dục, đào tạoTrong tháng 02 năm 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị tiếp tục triển khai nhiệm vụ năm học 2025 - 2026 đảm bảo đúng tiến độ, bám sát chỉ đạo của các cấp. Các cơ sở giáo dục tổ chức tốt các hoạt động “Mừng Đảng - Mừng Xuân”, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông trước, trong và sau tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; duy trì ổn định nề nếp dạy và học ngay sau kỳ nghỉ Tết.Công tác chuyên môn đạt kết quả tích cực. Ngành tổ chức sơ kết học kỳ I, triển khai nhiệm vụ học kỳ II; tăng cường bồi dưỡng học sinh giỏi và hướng dẫn các dự án tham gia Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia. Kết quả nổi bật, tỉnh có 114 học sinh đoạt giải quốc gia môn văn hóa lớp 12, đạt 65,5%, vượt chỉ tiêu đề ra.Công tác an sinh được quan tâm kịp thời với hơn 4.330 suất quà trao cho giáo viên, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tổng trị giá trên 2,29 tỷ đồng. Bên cạnh kết quả đạt được, tiến độ cấp phát thư điện tử công vụ còn chậm. Nhìn chung, tháng 02/2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng thực hiện tốt nhiệm vụ các tháng tiếp theo.3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thaoa) Hoạt động văn hóaTrong tháng 02 năm 2026, hoạt động văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Trị diễn ra sôi nổi, thiết thực chào Mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Trị đã chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền cổ động trực quan; tổ chức treo cờ, pa nô, băng rôn, khẩu hiệu tại trung tâm hành chính, khu dân cư và các tuyến đường chính. Nhiều chương trình văn nghệ, biểu diễn nghệ thuật quần chúng, giao lưu văn hóa được tổ chức phục vụ nhân dân trong dịp Tết, tạo không khí vui tươi, phấn khởi đầu năm mới.Công tác quản lý và tổ chức lễ hội đầu xuân được thực hiện đảm bảo trang trọng, tiết kiệm, an toàn, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và nếp sống văn minh. Hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa được quan tâm; các điểm di tích mở cửa phục vụ khách tham quan, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được duy trì; công tác kiểm tra hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo được tăng cường.b) Hoạt động thể dục thể thaoTrong tháng, phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp với nhiều giải thi đấu mừng Xuân được tổ chức tại cơ sở như bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, điền kinh và các trò chơi dân gian, thu hút đông đảo cán bộ, nhân dân tham gia. Các hoạt động góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng và tạo khí thế thi đua sôi nổi đầu năm.Đối với thể thao thành tích cao, ngành tiếp tục duy trì công tác đào tạo, huấn luyện vận động viên; xây dựng kế hoạch tham gia các giải thi đấu khu vực và toàn quốc năm 2026. Công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao được thực hiện theo đúng quy định, đảm bảo các hoạt động diễn ra an toàn, hiệu quả.4. Tình hình trật tự an toàn xã hội- An toàn giao thôngTháng 02 năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 31 vụ tai nạn giao thông, làm chết 24 người, bị thương 29 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn tăng 29,17% (+07 vụ), số người chết tăng 60% (+09 người), số người bị thương tăng 93,33% (+14 người). Tất cả các vụ tai nạn giao thông đều xảy ra trên đường bộ.- Tình hình cháy nổTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ cháy (cháy phương tiện vận tải), không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính một tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy giảm 02 vụ.5. Tình hình nổi bật khác về xã hộiTháng 02 năm 2026 là dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Trị cơ bản ổn định. Hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được duy trì trở lại sau kỳ nghỉ Tết. Thị trường hàng hóa tương đối ổn định, nguồn cung đảm bảo, không xảy ra biến động lớn về giá cả các mặt hàng thiết yếu. Trật tự an toàn xã hội được giữ vững; các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn giao thông trước, trong và sau Tết.Công tác an sinh xã hội tiếp tục được các cấp, ngành quan tâm triển khai đồng bộ. Nhân dịp tết Nguyên đán, tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người lao động có hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo mọi người, mọi nhà đều có điều kiện đón Tết. Các chế độ trợ cấp thường xuyên, trợ cấp xã hội, hỗ trợ thất nghiệp được chi trả kịp thời, đúng đối tượng.Công tác chăm lo Tết cho người nghèo được Mặt trận các cấp triển khai hiệu quả, với nhiều hoạt động thiết thực. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức chương trình “Nối vòng tay nhân ái” Xuân Bính Ngọ 2026, đã vận động và tổ chức trao 69.577 suất quà Tết, hỗ trợ sửa chữa 62 căn nhà, trao 506 suất học bổng cho học sinh nghèo, tổ chức 3 phiên “Chợ 0 đồng” cho các hộ nghèo, gia đình chính sách, nạn nhân chất độc da cam, người khuyết tật, trẻ mồ côi, các gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, với tổng trị giá hơn 77,1 tỷ đồng./.[1] Nguồn: Báo cáo số 192/BC-TTBVTV ngày 25/02/2026 của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.[2] Nguồn: Báo cáo số 145/BC-CNTY ngày 26/02/2026 của Chi cục Chăn nuôi và Thú y.
BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 01 NĂM 2026
- 20/05/2026 14:41
Năm 2026 là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) 5 năm 2026 - 2030 của tỉnh Quảng Trị; là năm khởi đầu tạo nền tảng để đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026, tỉnh Quảng Trị xác định tiếp tục quán triệt sâu sắc và triển khai hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Trung ương và của tỉnh; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh sau sáp nhập; lấy ổn định để phát triển, lấy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực, lấy Nhân dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.Trong không khí hân hoan chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng thời chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng (03/02/1930 - 03/02/2026), để chuẩn bị các điều kiện phục vụ Nhân dân vui xuân, đón Tết, tạo khí thế mới, động lực mới ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai quyết liệt, hiệu quả Chỉ thị số 07-CT/TU ngày 31/12/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tổ chức Tết Bính Ngọ năm 2026; các Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026; Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 09/12/2025 của BCH Đảng bộ tỉnh về phương hướng, nhiệm vụ công tác xây dựng đảng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh năm 2026, Nghị quyết số 59/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Đồng thời, xác định rõ quan điểm và trọng tâm chỉ đạo, điều hành; nhấn mạnh việc kế thừa và phát huy những kết quả quan trọng đã đạt được; củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Tập trung cao độ khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức; giữ vững tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường; phát huy mạnh mẽ quyết tâm đổi mới, đột phá, sáng tạo, tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm; tận dụng hiệu quả mọi cơ hội, điều kiện thuận lợi để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.Kết quả đạt được trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong tháng 01 năm 2026 như sau:I. KINH TẾ1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnSản xuất nông nghiệp trong tháng 01/2026 tập trung vào gieo trồng, chăm sóc lúa vụ Đông Xuân và các loại cây hoa màu. Sản xuất chăn nuôi chủ yếu chăm sóc, chuẩn bị xuất chuồng phục vụ thực phẩm cho tết Nguyên đán, đồng thời khử trùng chuồng trại chuẩn bị ra Tết thả giống mới. Sản xuất lâm nghiệp tập trung vào hoạt động hưởng ứng phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân dịp xuân Bính Ngọ. Sản xuất thủy sản tiếp tục phát triển tích cực.a) Nông nghiệp- Trồng trọtGieo trồng vụ Đông Xuân năm nay trong điều kiện thời tiết khô ráo, nguồn nước dữ trữ dồi dào thuận lợi cho việc làm đất và gieo trồng. Tiến độ thực hiện gieo trồng cây hàng năm đến ngày 31/01/2026 ước đạt 74.137,5 ha, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm như sau:- Cây lúa thực hiện 51.420,2 ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước. Do thời tiết thuận lợi làm đất sớm, khung lịch thời vụ được đẩy lên sớm hơn nhằm thu hoạch sớm hạn chế thiệt hại do thời tiết. Năm nay, các nhóm giống lúa chủ lực chiếm khoảng 70% diện tích gồm các giống lúa thuần như HN6, Khang dân 18, VNR20, HC95, Hà Phát 3, HG12, PC6, QS88, ADI28, TBR97, ĐD2,...; nhóm giống bổ sung chiếm khoảng 20% gồm Thiên ưu 8, Bắc thơm số 7, ĐB6, TBR225, SV181, BT09,...; và nhóm giống mới có triển vọng được bố trí không quá 10% diện tích. Các giống lúa lai như Nhị ưu 838, VT404, MHC2, KH336,... tiếp tục được khuyến khích mở rộng tại những vùng phù hợp.- Các loại cây trồng khác thực hiện 22.717,3 ha, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích gieo trồng một số cây trồng chính: Cây ngô 5.414,7 ha, tăng 0,3%; khoai lang 3.175,0 ha, giảm 3,4%; sắn 4.501,2 ha, giảm 1,1%; mía 50,2 ha, tăng 2,0%; lạc 2.908 ha, giảm 0,6%; cây rau đậu các loại 5.833,2 ha, tăng 0,3%; các loại cây trồng khác 835 ha, giảm 3,5% so với cùng kỳ. Tiến độ gieo trồng khoai lang, sắn, lạc giảm so với vụ Đông Xuân năm trước, do diện tích sắn một số nơi năm 2025 bị bệnh nên sau khi thu hoạch người dân đang thực hiện vệ sinh khử trùng, bổ sung dinh dưỡng cho đất; diện tích khoai lang và diện tích lạc do hiệu quả kinh tế không cao nên năm nay dự kiến trồng ít hơn; riêng lúa, ngô, rau đậu vẫn đảm bảo diện tích so với vụ Đông Xuân năm trước.Hình 1: Diện tích gieo trồng một số cây hàng nămTrong bối cảnh biến đổi khí hậu tác động ngày càng rõ nét, tỉnh Quảng Trị đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với phát triển các mô hình cây trồng giảm phát thải, vừa bảo vệ môi trường vừa nâng cao giá trị sản xuất. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được tỉnh xác định là mở rộng diện tích cây trồng giảm phát thải, nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững. Để thực hiện được nhiệm vụ đó trong vụ sản xuất này các giải pháp canh tác thân thiện với môi trường được ngành nông nghiệp địa phương chủ động lồng ghép vào kế hoạch sản xuất hàng năm, từ khâu lựa chọn giống, quản lý nước tưới đến sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật theo hướng tiết giảm, an toàn.Cụ thể đã có mô hình sản xuất lúa hữu cơ do Công ty cổ phần Tổng công ty thương mại Quảng Trị (Sepon Group) phối hợp với nông dân các xã: Hiếu Giang, Gio Linh, Vĩnh Linh và Hải Lăng thực hiện với gần 200 ha. Toàn bộ diện tích đều áp dụng phương pháp mạ khay, máy cấy, giúp đồng bộ hóa quy trình canh tác và nâng cao năng suất lao động, đồng thời công ty cũng thực hiện liên kết chuỗi giá trị hỗ trợ 50% chi phí giống và vật tư đầu vào. Toàn bộ kinh phí hỗ trợ sẽ được đơn vị thu hồi bằng hình thức khấu trừ trực tiếp khi thu mua sản phẩm lúa thương phẩm vào cuối vụ, giúp giảm áp lực tài chính đầu vụ cho người dân. Mô hình này không chỉ khẳng định cam kết của Sepon Group trong việc phát triển nền nông nghiệp xanh, bền vững mà còn là bước đi chiến lược nhằm nâng cao giá trị và vị thế của hạt gạo Quảng Trị trên thị trường nội địa và xuất khẩu.Tình hình sâu, bệnh gây hại cây trồng (đến ngày 22/01/2026) như sau:- Trên cây lúa: Chuột gây hại phổ biến 3-5%, nơi cao 7-10%, tập trung ở xã Quảng Trạch, Vĩnh Thủy, Hải Lăng, Quảng Ninh,... Ốc bươu vàng gây hại 118,5 ha, tỉ lệ gây hại phổ biến 2-3 con/m2, nơi cao 5-7 con/m2; tập trung ở xã Hải Lăng, Vĩnh Hoàng, Trường Phú, Quảng Ninh,... Bọ trĩ gây hại 40 ha, tỉ lệ gây hại phổ biến 3-5%, nơi cao 7-10%; tập trung ở phường Nam Ba Đồn, phường Bắc Gianh, xã Ninh Châu, xã Quảng Ninh...- Trên cây môn: Bệnh vàng lá tỷ lệ bệnh phổ biến 3-5 %, nơi cao 10-15 %; tập trung ở các xã Vĩnh Hoàng, Cửa Tùng,...- Trên cây nén: Khô đầu lá tỷ lệ bệnh phổ biến 2-3%, nơi cao 7-10 %; tập trung ở các xã Vĩnh Hoàng, Cửa Tùng,...- Trên cây ngô: Chuột gây hại phổ biến 3-4%; tập trung ở xã Kim Phú, Tuyên Lâm, Tuyên Hóa. Sâu keo mùa thu gây hại mật độ phổ biến 2-3 con/m2, nơi cao 5-7 con/m2; tập trung ở xã Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Kim Phú,...- Trên cây sắn: Bệnh khảm lá gây hại với tỷ lệ bệnh phổ biến 10-20%, nơi cao 30-50%, cục bộ 70-80%; cấp 3-5-7; tập trung ở các xã Gio Linh, A Dơi, Lìa, Tân lập, Bến Hải, Cồn Tiên,…[1]- Chăn nuôiTrong tháng 01/2026, các doanh nghiệp, trang trại và hộ chăn nuôi đang tích cực chuẩn bị nguồn cung phục vụ tết Nguyên đán. Các cơ sở tập trung chăm sóc, vỗ béo đàn vật nuôi, tăng cường phòng, chống dịch bệnh và bảo đảm an toàn sinh học. Tình hình chăn nuôi cơ bản ổn định, không phát sinh dịch bệnh lớn; chăn nuôi lợn từng bước tái đàn sau dịch tả lợn châu Phi; chăn nuôi trâu, bò có xu hướng giảm do diện tích đồng cỏ ngày càng thu hẹp; trong khi chăn nuôi gia cầm phát triển tốt nhờ giá cả tương đối ổn định và nhu cầu tiêu thụ tăng. Công tác kiểm soát vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm và kiểm tra an toàn thực phẩm được tăng cường nhằm bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu thị trường trong dịp Tết sắp tới.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 01/2026 đạt 13.610,2 tấn, giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 222,2 tấn, giảm 6,3%; thịt bò 1.082 tấn, giảm 4,8%; thịt lợn 8.360 tấn, giảm 6,9%; thịt gia cầm 3.946 tấn, giảm 5,9% (trong đó: Thịt gà 3.036 tấn, giảm 4,9%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm đạt 16.535 nghìn quả, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chăn nuôi tháng 01/2026 ước tính giảm so với cùng kỳ năm trước do thời điểm tết Nguyên đán năm nay rơi vào tháng 02, không trùng với tháng 01 như năm trước. Vì vậy, nhu cầu tiêu thụ và hoạt động xuất chuồng trong tháng 01 thấp hơn, dẫn đến sản lượng chăn nuôi giảm so với cùng kỳ năm trước.Hình 2. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng* Công tác thú y: Trong tháng 01/2026, công tác thú y trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời, hiệu quả; không phát sinh dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. UBND các xã, phường đã ban hành kế hoạch kiểm tra các điểm giết mổ động vật nhỏ lẻ trên địa bàn trước tết Nguyên đán; đồng thời phối hợp tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các chủ cơ sở giết mổ thực hiện nghiêm các quy định về vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, không giết mổ động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh và tổ chức ký cam kết chấp hành các quy định của pháp luật trong hoạt động giết mổ.Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm (Tính đến ngày 24/01/2026):- Dịch bệnh gia súc, gia cầm: không.- Dịch bệnh thủy sản: không [2].b) Lâm nghiệpTrong tháng 01, thời tiết có những đợt mưa rét, xen kẽ ngày nắng ấm; thuận lợi cho các chủ rừng triển khai hoạt động trồng, chăm sóc rừng, khai thác gỗ. Diện tích rừng trồng mới tháng 01/2026 ước đạt 1.418,5 ha, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 270 ngàn cây, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 01 năm 2026 ước đạt 229.865 m3, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Do nhiều diện tích rừng đã đến kỳ khai thác, cộng với điều kiện thời tiết thuận lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác và vận chuyển gỗ.Các đơn vị đã chủ động phối hợp các cơ quan, đơn vị liên quan, chính quyền địa phương, các Ban quản lý rừng, lâm trường,... triển khai quyết liệt các biện pháp đấu tranh ngăn chặn tình hình xâm hại rừng trên địa bàn, tiếp tục phối hợp chính quyền địa phương, chủ rừng duy trì hoạt động các tổ/điểm chốt bảo vệ rừng để bảo vệ các vùng rừng trọng điểm, tăng cường kiểm tra các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp tại các vùng, các tuyến giao thông, ngăn chặn hiệu quả tình hình mua bán, vận chuyển. Từ đầu tháng 01/2026 đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng và thiệt hại về rừng.c) Thủy sảnTình hình khai thác và nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định và khởi sắc dần. Thời tiết trong tháng 01/2026 tương đối thuận lợi khiến nhiều tàu ra khơi được lâu ngày hơn, các hộ nuôi trồng thủy sản tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm phục vụ nhu cầu Tết cho người dân.Ước tính sản lượng thuỷ sản tháng 01/2026 đạt 9.891,7 tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Cá ước đạt 7.943,0 tấn, tăng 4,7%; tôm ước đạt 771,5 tấn, tăng 1,7%; thuỷ sản khác ước đạt 1.177,2 tấn, tăng 4,1%.Hình 4. Sản lượng thủy sản- Khai thácTrong tháng 01 năm 2026 hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đạt kết quả tích cực, sản lượng khai thác có tăng so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu đến từ khai thác biển, đặc biệt là nhóm nghề lưới rê, lưới vây và nghề câu khơi. Khai thác nội địa duy trì ổn định, đóng góp một phần vào tổng sản lượng chung.Sản lượng thuỷ sản khai thác tháng 01/2026 ước đạt 7.998,6 tấn, tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 6.725,0 tấn, tăng 5,2%; tôm đạt 152,4 tấn, tăng 2,9%; thủy sản khác đạt 1.121,2 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng khai thác tăng do những ngày đầu năm 2026 thời tiết khá ổn định nên ngư dân tích cực vươn khơi bám biển. Một số ngư trường truyền thống xuất hiện các đối tượng khai thác ven bờ nhiều đặc biệt ruốc, cá trích, cá nục,…, làm tăng sản lượng khai thác ngắn ngày. Hơn nữa năm nay tháng Một là tháng cận Tết nên hoạt động khai thác nhộn nhịp hơn nhằm đảm bảo nhu cầu phục vụ dịp tết Nguyên đán, ngư dân chủ động tăng chuyến biển, tận dụng lúc giá bán cao.- Nuôi trồngHoạt động nuôi trồng thủy sản trong tháng 01/2026 duy trì ổn định và có mức tăng nhẹ. Người nuôi chủ yếu tập trung chăm sóc, quản lý diện tích đã thả nuôi từ cuối năm trước; một số đối tượng nuôi sinh trưởng khá, ít dịch bệnh. Hiện nay, các hộ nuôi trồng thuỷ sản đang tích cực chăm sóc tốt nhất các loại thủy sản để chuẩn bị thu hoạch sản phẩm phục vụ trong dịp tết Nguyên đán.Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch trong tháng 01 ước đạt 1.893,1 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 1.218,0 tấn, tăng 2,2%; tôm đạt 619,1 tấn, tăng 1,4%; thủy sản khác đạt 56,0 tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước.Cùng với việc thu hoạch sản phẩm nuôi trồng, các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản đã chủ động áp dụng các biện pháp phòng tránh, theo dõi diễn biến thời tiết và chuẩn bị đầy đủ vật tư, hoá chất, áp dụng các biện pháp kỹ thuật giữ ổn định môi trường ao nuôi, chăm sóc tích cực để tăng cường sức đề kháng cho thuỷ sản nuôi.2. Công nghiệpTháng 01 năm 2026, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị duy trì ổn định và tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo diễn ra sôi động, đặc biệt ở một số ngành chủ lực nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường dịp Tết Nguyên đán. Cùng với đó, việc đưa vào hoạt động một số dự án mới đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất, tạo động lực cho tăng trưởng ngành công nghiệp và hỗ trợ thực hiện các mục tiêu kế hoạch năm 2026.Tháng 01 năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tỉnh Quảng Trị giảm so với tháng trước nhưng vẫn đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm so với tháng trước chủ yếu do hoạt động sản xuất được đẩy mạnh vào tháng 12 năm trước để hoàn thành kế hoạch năm, trong khi hầu hết các ngành công nghiệp chủ yếu đều ghi nhận tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ, cho thấy xu hướng phục hồi và phát triển ổn định của sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cụ thể: Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 01 năm 2026 giảm 7,9% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 26,8%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,5%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước.Hình 5. Chỉ số sản xuất công nghiệpChỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01 năm 2026 của một số ngành cấp 2 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 42,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 39,6%; sản xuất đồ uống tăng 34,3%; khai khoáng khác tăng 31,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 24,9%; sản xuất trang phục tăng 22,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 20,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 15,0%; (nguyên nhân một số ngành công nghiệp tăng cao so với năm trước là do ngay từ những ngày đầu năm nhiều doanh nghiệp đã có những đơn hàng mới, tăng cường sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, tháng 01/2025 trùng vào thời gian nghỉ tết Nguyên đán Ất Tỵ). Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước: In, sao chép bản ghi các loại giảm 7,9%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm 9,7% (ngành hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm do công ty TNHH dự án phát triển Việt Nam tạm dừng hoạt động để bảo dưỡng máy móc và đang chờ xin giấy phép hoạt động).Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong tháng 01 năm 2026 so với cùng kỳ năm trước: Quặng titan đạt 1.341 tấn, giảm 29,2%; đá xây dựng đạt 204.542 m3, tăng 46,1%; cao lanh đạt 9.258 tấn, tăng 46,8%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 2.550 tấn, giảm 17,8%; tinh bột sắn đạt 11.689 tấn, giảm 26,1%; bia đóng lon đạt 3.350 nghìn lít, tăng 64,0%; nước khoáng đạt 46 nghìn lít, giảm 16,5%; áo quần các loại (trừ áo sơ mi người lớn) đạt 3.105 nghìn cái, tăng 13,1%; áo sơ mi đạt 1.175 nghìn cái, tăng 3,9%; dăm gỗ đạt 117.801 tấn, tăng 76,2%; ván ép từ gỗ đạt 21.054 m3, tăng 7,0%; cao su tổng hợp và cao su tự nhiên đạt 100 tấn, tăng 20,6%; kính cường lực đạt 1.066 tấn, tăng 107,6%; clinker thành phẩm đạt 165.585 tấn, giảm 8,2%; xi măng đạt 114.690 tấn, tăng 40,6%; điện gió đạt 272 triệu kwh, giảm 21,1%; điện thương phẩm đạt 169 triệu kwh, tăng 16,8%; nước máy thương phẩm đạt 2.303 nghìn m3, tăng 4,6%.3. Vốn đầu tưVốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 01 năm 2026 chủ yếu tập trung vào thi công các công trình chuyển tiếp, đồng thời hoàn tất thủ tục nghiệm thu, thanh toán khối lượng hoàn thành của năm 2025. Do là tháng đầu năm, các chủ đầu tư đang trong giai đoạn chuẩn bị hồ sơ đấu thầu, hoàn thiện các thủ tục đầu tư theo quy định nhằm lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực; đồng thời thực hiện thanh toán vốn đầu tư kịp thời đối với khối lượng đã được nghiệm thu, gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo chất lượng các công trình đang triển khai, đặc biệt là các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng.So với cùng kỳ năm trước, tình hình thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 01 năm 2026 có xu hướng giảm. Nguyên nhân chủ yếu do: kế hoạch giao vốn đầu tư công năm 2026 chỉ bằng dưới 45% so với năm 2025; kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 từ nguồn Ngân sách Trung ương chưa được phân bổ; tháng 01 là thời điểm đầu năm, các dự án triển khai chủ yếu là dự án chuyển tiếp từ năm trước.Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 01 năm 2026 ước tính đạt 214,2 tỷ đồng, giảm 83,0% so với tháng trước và giảm 33,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 187,3 tỷ đồng, giảm 36,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 26,9 tỷ đồng, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước.Một số dự án thực hiện trên địa bàn tỉnh: Dự án Đường ven biển và cầu Nhật Lệ 3; Dự án thành phần 1 - Đường ven biển thuộc dự án Đường ven biển và cầu Nhật Lệ 3; Dự án thành phần 2: Cầu Nhật Lệ 3 và đường hai đầu cầu; Dự án Đường ven biển kết nối hành lang kinh tế Đông tây, tỉnh Quảng Trị - giai đoạn 1; Dự án Đường tránh phía Đông thành phố Đông Hà (đoạn từ nút giao đường Nguyễn Hoàng đến Nam cầu sông Hiếu); Dự án Khu tái định sư xã Hải An (giai đoạn 2); Dự án Trung tâm Bảo trợ xã hội và Phục hồi chức năng dành cho Người khuyết tật tỉnh Quảng Trị; Dự án Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Quảng Bình (cơ sở 2); Dự án Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện các tỉnh Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình và Quảng Trị - Tiểu dự án tỉnh Quảng Trị; Dự án Phát triển đô thị ven biển miền Trung hướng đến tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu thành phố Đông Hà; Dự án San nền và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu tại Khu vực Trung tâm Cửa khẩu quốc tế La Lay (Giai đoạn 2).4. Thương mại, dịch vụa) Tổng mức bán lẻ hàng hoáTháng 01/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng nhẹ so với tháng trước, do đây là tháng trước tết Nguyên đán, không trùng với thời điểm Tết như năm 2025 nên nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của Nhân dân đang tập trung chủ yếu vào các mặt hàng thiết yếu phục vụ sinh hoạt hằng ngày và một phần nhu cầu chuẩn bị Tết. So với cùng kỳ năm trước, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng tuy nhiên mức tăng thấp hơn do chi tiêu cho mua sắm, dịch vụ chưa bước vào giai đoạn cao điểm. Các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh chủ động kế hoạch dự trữ hàng hóa, bảo đảm nguồn cung, giá cả cơ bản ổn định, tạo tiền đề cho hoạt động mua sắm sôi động hơn trong tháng tiếp theo khi bước vào cao điểm tết Nguyên đán.Hình 6. Tổng mức bán lẻ hàng hóaTổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 01/2026 ước tăng 5,9% so với tháng trước và tăng 1,4% so với cùng kỳ. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 6,5% so với tháng trước và tăng 0,3% so với cùng kỳ; hàng may mặc ước tăng 6,3% so với tháng trước và tăng 1,3% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước tăng 6,3% so với tháng trước và tăng 2,1% so với cùng kỳ; nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục ước tăng 4,4% so với tháng trước và giảm 2,5% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 5,8% so với tháng trước và tăng 5,2% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước tăng 5,1% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước tăng 4,8% so với tháng trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác ước tăng 3,7% so với tháng trước và giảm 2,0% so với cùng kỳ.b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hànhTháng 01/2026, nhu cầu tham quan, du lịch của người dân trong dịp nghỉ tết Dương lịch tăng cao. Nhiều hoạt động chào đón năm mới được tổ chức với quy mô phù hợp, thu hút đông đảo người dân và du khách, nổi bật là các chương trình nghệ thuật và bắn pháo hoa tại một số địa phương. Ngành Du lịch phối hợp tổ chức đón các đoàn khách đầu tiên đến Quảng Trị trong năm 2026 bằng đường hàng không; đồng thời đón khách đầu năm tại Di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Bên cạnh đó, ngành tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, triển khai các chương trình kích cầu, ứng dụng công nghệ thông tin vào phát triển sản phẩm du lịch mới. Các điểm tham quan, di tích lịch sử - văn hóa như Địa đạo Vịnh Mốc, Sân bay Tà Cơn, Thành Cổ Quảng Trị, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh thu hút đông đảo du khách đến tham quan, trải nghiệm. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tháng 01/2026 tăng cao so với tháng trước và so với cùng kỳ.- Dịch vụ lưu trú:Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 01/2026 ước tăng 12,9% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ.Hình 7. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uốngSố lượt khách lưu trú tháng 01/2026 ước tăng 12,2% so với tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ.Số lượt khách quốc tế lưu trú tháng 01/2026 ước tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 21,4% so với cùng kỳ.Ngày khách tháng 01/2026 ước tăng 14,5% so với tháng trước và tăng 11,7% so với cùng kỳ.- Dịch vụ ăn uống:Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 01/2026 ước tăng 10,5% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ.- Du lịch lữ hành:Doanh thu hoạt động lữ hành tháng 01/2026 ước tăng 17,9% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ.Số lượt khách du lịch lữ hành tháng 01/2026 ước tăng 6,3% so với tháng trước và tăng 7,2% so với cùng kỳ.Hình 8. Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hànhc) Các ngành kinh doanh dịch vụTrong tháng 01/2026, hoạt động dịch vụ khác tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ năm 2025, chủ yếu do tác động của nhu cầu tiêu dùng dịp cận tết Nguyên đán Bính Ngọ. Nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, lễ hội bắt đầu diễn ra, kéo theo sự gia tăng của các dịch vụ văn hóa, quảng cáo và sự kiện. Nhu cầu mua sắm, trang trí, chăm sóc cá nhân như làm đẹp, cắt tóc, gội đầu, làm móng tăng trong thời gian cận Tết. Các dịch vụ phục vụ đời sống như dọn vệ sinh nhà cửa, sửa chữa, vận chuyển cũng phát triển. Ngoài ra, thu nhập của người dân được cải thiện và tâm lý chi tiêu dịp cuối năm âm lịch góp phần thúc đẩy hoạt động dịch vụ khác tăng trưởng. Riêng lĩnh vực bất động sản tháng 01/2026 có xu hướng giảm so với tháng trước do Ngân hàng Nhà nước tăng cường kiểm soát tín dụng vào lĩnh vực bất động sản, đồng thời nhiều Ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất cho vay mua nhà, dẫn đến nhu cầu mua nhà giảm và hạn chế hoạt động đầu tư ngắn hạn. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh định danh tài sản khiến người mua và nhà đầu tư thận trọng hơn làm doanh thu ngành bất động sản giảm so với tháng trước.Ước tính doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 01/2026 tăng 8,5% so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ, trong đó: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản ước giảm 16,2% so với tháng trước và tăng 5,3% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 10,0% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 4,8% so với cùng kỳ; nhóm y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ; nhóm nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước tăng 27,6% so với tháng trước và tăng 7,6% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước tăng 9,1% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ khác ước tăng 23,1% so với tháng trước và tăng 14,0% so với cùng kỳ.d) Hoạt động vận tảiTháng 01/2026 là thời điểm trước tết Nguyên đán nên hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng nhẹ. Các doanh nghiệp vận tải chủ động xây dựng phương án tăng chuyến nhưng chưa vào cao điểm. Hoạt động vận tải hàng hóa duy trì mức tăng khá, đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh và chuẩn bị cho thị trường Tết, qua đó doanh thu và khối lượng vận chuyển tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng tăng chưa cao so với tháng trước.Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 01/2026 ước tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 10,6% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách ước tăng 10,1%; vận tải hàng hóa ước tăng 11,0%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát ước tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước.Hình 9. Doanh thu hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tảiVận tải hành kháchƯớc tính tháng 01/2026, số lượt hành khách vận chuyển tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 10,0% so với cùng kỳ.Vận tải hàng hóaƯớc tính khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 01/2026 tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 11,0% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 3,5% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ.đ) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la MỹTháng 01 năm 2026 là tháng cận tết Nguyên đán nên nhìn chung thị trường giá cả hàng hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tương đối ổn định, chưa xuất hiện tình trạng tăng giá đột biến. Tuy nhiên, giá mặt hàng thịt lợn tăng khá mạnh do nguồn cung khan hiếm. Bên cạnh đó, một số mặt hàng thiết yếu như điện, nước sinh hoạt và gas có điều chỉnh tăng giá theo lộ trình. Ngược lại, nhiều mặt hàng tiêu dùng khác như rau, củ, quả có xu hướng giảm giá do nguồn cung dồi dào. Giá xăng, dầu trong tháng cũng được điều chỉnh giảm, góp phần kiềm chế mặt bằng giá chung. Những biến động trên đã tác động làm Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01 năm 2026 của tỉnh tăng 0,17% so với tháng trước. Tính chung 01 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 0,56% so với cùng kỳ năm trước.Hình 10. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 01/2026 so với tháng trướcSo với tháng trước, CPI tháng 01/2026 tăng 0,17%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, 06 nhóm hàng tăng giá, 03 nhóm giảm giá, 02 nhóm hàng ổn định. Cụ thể 6 nhóm hàng hóa tăng đó là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,14% so với tháng trước; Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,58%; Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,27% do nhóm rượu bia tăng 0,27%; Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,20%; Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14%; Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,01%. Có 3 nhóm hàng hóa giảm đó là nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống giảm 0,09%; nhóm giao thông giảm 1,87%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,27% so với tháng trước. Có 2 nhóm hàng ổn định đó là: nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm giáo dục.Chỉ số giá vàng 99,99%Giá vàng bình quân tháng 01/2026 giá vàng tăng 4,68% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 15,166 triệu đồng/chỉ vàng 99,99%, tăng 92,79% so với kỳ gốc 2024, bình quân 1 tháng tăng 72,58% so với cùng kỳ.Chỉ số giá đô la Mỹ (USD)Giá đô la Mỹ (USD) bình quân tháng 01/2026 là 26.383 VNĐ/USD, giảm 0,09% so với tháng trước, tăng 6,41% so với kỳ gốc 2024, bình quân 1 tháng tăng 4,89% so với cùng kỳ.5. Thu ngân sách Nhà nước, ngân hànga) Thu ngân sách Nhà nướcTổng thu ngân sách trên địa bàn tháng 01 năm 2026 ước tính thực hiện 1.161,0 tỷ đồng, đạt 9,2% so với dự toán trung ương và đạt 8,5% so với dự toán địa phương giao; trong đó, thu nội địa thực hiện 1.007,7 tỷ đồng, đạt 10,3% dự toán trung ương và đạt 9,4% dự toán địa phương; thu thuế xuất nhập khẩu thực hiện 153,3 tỷ đồng, đạt 5,4% dự toán địa phương giao.Trong tổng số thu cân đối ngân sách 01 tháng năm 2026, có 7/19 khoản thu đạt tiến độ (8,3%) so với dự toán năm của Địa phương là: thu từ doanh nghiệp Nhà nước trung ương, thu từ doanh nghiệp Nhà nước địa phương, thu từ DN có vốn ĐTNN, thu ngoài quốc doanh, thu thuế trước bạ, thuế thu nhập cá nhân và thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước.b) Ngân hàngHuy động vốn: Đến ngày 31/12/2025, tổng nguồn vốn huy động đạt 139.246 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/01/2026, tổng nguồn vốn huy động đạt 141.335 tỷ đồng, tăng 1,5% so với đầu năm.Tín dụng: Đến ngày 31/12/2025, tổng dư nợ cho vay đạt 167.320 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/01/2026, tổng dư nợ đạt 168.993 tỷ đồng, tăng 1,0% so với đầu năm.II. XÃ HỘI1. Y tếTrong tháng 01 năm 2026, công tác y tế trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Tình hình dịch bệnh truyền nhiễm cơ bản ổn định, không ghi nhận các bệnh nguy hiểm, bệnh mới nổi; một số bệnh thông thường được kiểm soát, không xảy ra tử vong. Công tác khám, chữa bệnh và bảo hiểm y tế được duy trì thường xuyên, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của Nhân dân; việc đảm bảo y tế phục vụ các sự kiện và dịp Tết Dương lịch được thực hiện đầy đủ. Công tác quản lý hành nghề y, dược tiếp tục được tăng cường, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Các hoạt động bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khỏe cho đối tượng yếu thế, trẻ em và người cao tuổi được quan tâm triển khai. Bên cạnh đó, ngành y tế chú trọng công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số và chuẩn bị các nhiệm vụ trọng tâm cho tháng tiếp theo.Công tác an toàn thực phẩm cho dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 là nhiệm vụ trọng tâm trong tháng, các cơ quan chức năng tập trung tăng cường thanh tra, kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, chế biến, thương mại và dịch vụ ăn uống, nhất là các bếp ăn tập thể, chợ và điểm kinh doanh thực phẩm phục vụ trong giai đoạn cao điểm trước Tết. Trong tháng không có vụ ngộ độc thực phẩm nào.2. Giáo dục, đào tạoTrong tháng 01 năm 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị tiếp tục triển khai các nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2025-2026, bảo đảm duy trì ổn định hoạt động dạy và học trong thời điểm chuẩn bị Tết Nguyên đán. Công tác chỉ đạo, điều hành được thực hiện bám sát các chủ trương của Trung ương, của Tỉnh ủy và UBND tỉnh; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền các hoạt động “Mừng Đảng - Mừng Xuân”, góp phần giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, giáo viên và học sinh.Công tác giáo dục mũi nhọn đạt nhiều kết quả tích cực. Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025-2026 được tổ chức thành công, toàn tỉnh có 114/174 học sinh đoạt giải, gồm 01 giải Nhất, 32 giải Nhì, 37 giải Ba và 44 giải Khuyến khích; trong đó giải Nhất thuộc về môn Địa lý của Trường THPT chuyên Võ Nguyên Giáp. Kết quả này khẳng định chất lượng đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi và sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo.Bên cạnh đó, Cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật học sinh trung học cấp tỉnh được triển khai nghiêm túc, lựa chọn các dự án tiêu biểu tham gia cấp quốc gia. Công tác giáo dục STEM, chuyển đổi số tiếp tục được quan tâm, từng bước nâng cao chất lượng dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.Nhìn chung, trong tháng 01 năm 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo nền tảng thuận lợi cho việc triển khai các nhiệm vụ học kỳ II và mục tiêu phát triển giáo dục trong năm 2026.3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thaoa) Hoạt động văn hóaTrong tháng 01 năm 2026, các hoạt động văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Trị được triển khai đồng bộ, bám sát nhiệm vụ chính trị và kế hoạch đề ra. Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được quan tâm thực hiện. Nhiều nội dung liên quan đến quản lý, sử dụng hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được rà soát, hoàn thiện. Các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan mừng Đảng, mừng Xuân và chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được đẩy mạnh, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân.Các hoạt động văn hóa cơ sở trên địa bàn tỉnh được duy trì và tổ chức theo kế hoạch. Công tác trưng bày, giới thiệu sách, báo, tư liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu đọc của người dân được tăng cường. Hoạt động chiếu phim lưu động tiếp tục được tổ chức tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Công tác nghiên cứu, lập hồ sơ di tích và tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể được triển khai theo kế hoạch. Hoạt động biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhân dân dịp trước Tết Nguyên đán được tổ chức phù hợp. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tiếp tục góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân trên địa bàn tỉnh.b) Hoạt động thể dục thể thaoTrong tháng 01, UBND tỉnh ban hành kế hoạch tổ chức Lễ phát động Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” và Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2026. Công tác triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển thể dục thể thao tiếp tục được quan tâm. Điều lệ giải vô địch Cờ vua - Cờ tướng tỉnh Quảng Trị lần thứ I năm 2026 được ban hành kịp thời. Hoạt động thể thao quần chúng từng bước được duy trì và phát triển, góp phần nâng cao sức khỏe, đời sống tinh thần cho nhân dân.4. Tình hình trật tự an toàn xã hội- An toàn giao thôngTháng 01 năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông, làm chết 16 người, bị thương 15 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 50% (-17 vụ), số người chết giảm 23,81% (-05 người), số người bị thương giảm 11,76% (-02 người). Tất cả các vụ tai nạn giao thông đều xảy ra trên đường bộ.- Tình hình cháy nổTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ cháy (cháy trụ điện). Không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính 0,923 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy tương đương, giá trị thiệt hại giảm 97,29%.5. Tình hình nổi bật khác về xã hộiTrong tháng 01 năm 2026, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Trị cơ bản ổn định. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân diễn ra tương đối thuận lợi, góp phần duy trì việc làm và thu nhập. Thu nhập của người lao động nhìn chung ổn định so với tháng trước, một bộ phận lao động thời vụ có thêm việc làm trong dịp trước Tết Nguyên đán. Công tác giải quyết việc làm, hỗ trợ người lao động được các địa phương quan tâm triển khai.Các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Công tác chăm lo đời sống cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng bảo trợ xã hội được chú trọng. Việc chi trả trợ cấp xã hội, trợ cấp ưu đãi và các chế độ chính sách được đảm bảo đúng đối tượng, đúng thời gian. Các hoạt động thăm hỏi, tặng quà Tết cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn được tổ chức rộng khắp, góp phần giảm bớt khó khăn và ổn định đời sống nhân dân.Công tác giảm nghèo tiếp tục được lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình mục tiêu quốc gia. Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư từng bước được cải thiện. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân yên tâm lao động, sản xuất và đón tết Nguyên đán an toàn, lành mạnh./.[1] Nguồn: Báo cáo số 89/BC-TTBVTV ngày 22/01/2026 của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.[2] Nguồn: Báo cáo số 82/BC-CNTY ngày 27/01/2026 của Chi cục Chăn nuôi và Thú y.
BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ IV VÀ NĂM 2025
- 20/05/2026 10:13
Năm 2025 là năm tăng tốc, bứt phá, có ý nghĩa quyết định trong hoàn thành các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Đây cũng là năm ghi dấu mốc lịch sử, tỉnh Quảng Trị được thành lập trên cơ sở hợp nhất tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị, đồng thời bắt đầu thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Việc hợp nhất và tổ chức bộ máy chính quyền 2 cấp không chỉ tạo ra không gian phát triển rộng lớn, đồng bộ mà còn tăng tính hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành và triển khai chính sách, mở ra nhiều dư địa, lợi thế mới tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo.Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, xung đột địa chính trị, cạnh tranh thương mại, biến động giá năng lượng, lương thực và rủi ro thiên tai, dịch bệnh gia tăng; trong nước nhiều khu vực bị ảnh hưởng bởi mưa bão, lũ lụt; riêng trên địa bàn tỉnh, thời tiết cực đoan đã gây ngập lụt, thiệt hại sản xuất, ảnh hưởng đời sống Nhân dân. Một số lĩnh vực gặp khó khăn như chăn nuôi, giải ngân vốn đầu tư công còn chậm, công tác phục hồi sản xuất sau bão lũ cần nhiều nguồn lực.Tuy nhiên, với những thuận lợi quan trọng như kinh tế vĩ mô ổn định, dịch vụ - du lịch tiếp tục tăng trưởng, môi trường đầu tư cải thiện, cùng lợi thế về quy mô mới sau hợp nhất, cùng sự chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các cấp, các ngành đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp, thực hiện nghiêm các Nghị quyết của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đẩy mạnh thu ngân sách, giải ngân đầu tư công, phát triển thương mại - dịch vụ, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP 8,00% trong năm 2025.Nhờ triển khai quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh quý IV và cả năm 2025 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực: nông nghiệp ổn định, công nghiệp duy trì đà tăng trưởng, thương mại - dịch vụ và du lịch khởi sắc, môi trường đầu tư được cải thiện, đời sống Nhân dân được quan tâm, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.Một số chỉ tiêu chủ yếu ước tính thực hiện năm 2025:1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt 8,00%; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,89%, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 10,75% (riêng công nghiệp tăng 8,27%), khu vực dịch vụ tăng 8,35%;2. Cơ cấu GRDP: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 18,12%; khu vực công nghiệp - xây dựng 29,49%; khu vực dịch vụ 48,57%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 3,82%;3. Thu ngân sách trên địa bàn đạt 13.400 tỷ đồng;4. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 70,1 nghìn tỷ đồng;5. GRDP bình quân đầu người đạt 79,1 triệu đồng;6. Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 56,5% (39/69 xã);7. Số lao động có việc làm trong nền kinh tế là 754,8 nghìn người;8. Tỷ lệ thất nghiệp là 2,68%;9. Tỷ lệ nghèo đa chiều 7,14%;10. Tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia đạt 66,7%;11. Số bác sỹ bình quân trên 1 vạn dân đạt 11,4 bác sỹ; Số giường bệnh bình quân trên 1 vạn dân đạt 38,3 giường;12. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,2%;13. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 73,6%; trong đó lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 32,6%;14. Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung ước 85,7%;15. Tỷ lệ dân số nông thôn được cung cấp nước sạch và hợp vệ sinh đạt 98,4%;16. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 61,5%;17. Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 98,0 %; Tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt 100%.Kết quả đạt được trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong quý IV và cả năm 2025 như sau:I. KINH TẾ1. Tăng trưởng kinh tếNăm 2025, nền kinh tế của tỉnh đạt kết quả tích cực; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng khá; sản xuất công nghiệp đạt kết quả tích cực, tăng trưởng mạnh; các ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành du lịch phát triển mạnh, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng. Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2025 đạt tốc độ cao.Ước tính tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2025 tăng 8,00% so với năm 2024. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,89%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 10,75%; khu vực dịch vụ tăng 8,35%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,44%. Đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng kinh tế năm 2025 là khu vực dịch vụ, đóng góp 4,15 điểm phần trăm; tiếp đến là khu vực công nghiệp - xây dựng, đóng góp 3,04 điểm phần trăm.Hình 1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP)Cơ cấu GRDP: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 18,12%, giảm 0,81 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 29,49%, tăng 0,48 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 48,57%, tăng 0,34 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,81%, giảm 0,02 điểm phần trăm so với năm 2024.2. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnNăm 2025, sản xuất nông nghiệp diễn ra trong điều kiện thời tiết bất lợi, song nhờ sự chỉ đạo kịp thời của các cấp, các ngành và việc đầu tư, cải thiện hạ tầng thủy lợi, các vụ sản xuất vẫn được triển khai đúng kế hoạch. Dịch bệnh trên đàn lợn tuy bùng phát mạnh trong quý III nhưng đã được kiểm soát hiệu quả; người dân tái đàn kịp thời, giúp quy mô đàn lợn phục hồi đáng kể, các vật nuôi khác duy trì mức tăng trưởng khá. Công tác trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng gắn với phòng chống thiên tai tiếp tục được chú trọng, tăng cường. Lĩnh vực nuôi trồng và khai thác thủy sản ổn định, tạo nền tảng cho ngành phát triển bền vững. Nhờ vậy, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn đạt được nhiều kết quả quan trọng.Ước tính giá trị tăng thêm nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2025 (theo giá so sánh năm 2010) tăng 3,20% so với năm trước. Trong đó: Nông nghiệp tăng 1,06%; lâm nghiệp tăng 13,60%; thủy sản tăng 2,26% so với năm trước.2.1. Nông nghiệpa) Trồng trọt* Cây hàng nămTình hình sản xuất cây hàng năm 2025 gặp nhiều bất lợi, vụ Đông Xuân chịu ảnh hưởng của không khí lạnh và mưa rét kéo dài; vụ Hè Thu ảnh hưởng của đợt mưa lớn cuối tháng 5, lúa Hè Thu mới gieo bị ngập úng, không gieo lại được; lúa tái sinh có 3.734 ha bị ngập nặng ngâm nước lâu ngày thối gốc không khắc phục được nên mất trắng. Tuy nhiên, nhờ sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của các cấp, các sở, ban, ngành và sự hỗ trợ về giống, điều kiện hạ tầng thủy lợi được cải thiện, sản xuất vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu vẫn triển khai theo đúng kế hoạch đề ra.Diện tích gieo trồng cây hàng năm 164.681,5 ha, giảm 0,8% so với năm trước. Trong đó: Diện tích vụ Đông Xuân 85.472,3 ha, giảm 0,7%; diện tích vụ Hè Thu 77.652,4 ha, giảm 0,8%; diện tích vụ Mùa 1.556,8 ha, giảm 7,0% so với năm trước. Nguyên nhân, diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm do một số diện tích bị thu hồi để triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng, đường cao tốc; một phần do vụ Hè thu gặp mưa lớn đầu vụ một số nơi bị ngập úng không gieo lại (thuộc các xã Ninh Châu, Trường Ninh), một số diện tích lúa tái sinh bị úng không để lại tái sinh được (thuộc các xã Lệ Thủy, Cam Hồng, Sen Ngư, Lệ Ninh, Tân Mỹ, Trường Phú).Diện tích cây lúa cả năm thực hiện 103.539,7 ha, giảm 0,4% so với năm trước. Cây lúa chia theo vụ sản xuất: Vụ Đông Xuân 55.500,8 ha, tăng 0,2%; vụ Hè Thu 46.482,1 ha, giảm 0,8%; vụ Mùa 1.556,8 ha, giảm 7,0% so với năm 2024.Diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô 8.534,8 ha, giảm 3,3%; cây khoai lang 3.826,8 ha, giảm 5,4%; cây sắn 20.194,2 ha, tăng 0,5%; cây lạc 5.847,6 ha, giảm 3,8%; rau các loại 11.645,4 ha, giảm 1,0%; đậu các loại 2.699,9 ha, giảm 4,2% so với năm trước.Hình 2. Sản xuất cây hàng năm năm 2025Do ảnh hưởng của thời tiết cực đoan trong cả hai Vụ đặc biệt là đầu các Vụ, mặt khác vụ Đông Xuân một số địa phương giống ST25 có sự phân đồng trổ bông không đồng đều và bị bệnh đốm nâu làm cho năng suất lúa giảm mạnh so với cùng kỳ. Các loại cây trồng khác đa số trồng ở địa hình cao ít bị ảnh hưởng của mưa, nhiều loại cây năm ngoái bị sâu bệnh hại năm nay phát triển tốt không bị sâu bệnh nên năng suất tăng cao so với cùng kỳ như ngô, khoai lang, lạc,…Năng suất gieo trồng một số cây trồng cả năm: Cây lúa cả năm đạt 52,90 tạ/ha, giảm 7,5% so với năm trước. Năng suất lúa chia theo vụ: Vụ Đông Xuân đạt 60,17 tạ/ha, giảm 5,0%; vụ Hè Thu đạt 45,56 tạ/ha, giảm 11,6%; vụ Mùa đạt 12,64 tạ/ha, tăng 6,0% so với năm trước; ngô đạt 49,80 tạ/ha, tăng 10,1%; cây khoai lang đạt 80,4 tạ/ha, tăng 3,1%; cây sắn đạt 166,16 tạ/ha, tăng 1,6%; cây lạc đạt 22,91 tạ/ha, tăng 6,0%; cây rau các loại đạt 108,32 tạ/ha, tăng 0,9%; cây đậu các loại đạt 10,84 tạ/ha, tăng 5,5% so với năm trước.Sản lượng lương thực cả năm 2025 đạt 590.386 tấn, so năm trước giảm 6,9%. Sản lượng lương thực chia ra: Thóc 547.683,5 tấn, giảm 7,8%; lương thực khác 42.702,5 tấn, tăng 6,5% so với năm trước. Sản lượng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô 42.507,2 tấn, tăng 6,4%; khoai lang 30.766,4 tấn, giảm 2,5%; sắn 335.536,0 tấn, tăng 2,1%; lạc 13.399,5 tấn, tăng 1,9%; rau các loại 126.145,8 tấn, giảm 0,1%; đậu các loại 2.926,1 tấn, tăng 1,1% so với năm trước.* Cây lâu nămTỉnh Quảng Trị có nhiều thuận lợi để phát triển cây lâu năm nhờ khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều độ ẩm cao là điều kiện để các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, nhất là các loại cây lâu năm trồng trên vùng gò đồi phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên; tận dụng được thế mạnh của vùng đồi núi, thích hợp cho nhiều loại cây công nghiệp như cà phê, chè, hồ tiêu, cây ăn quả đặc sản. Nhiều sông suối cung cấp nguồn nước tưới tiêu, đặc biệt quan trọng cho các vùng khô hạn. Cây lâu năm là nguồn nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp mang lại thu nhập cao ổn định cho người dân và có các chính sách hỗ trợ của Nhà nước; các chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trồng cây ăn quả và cây công nghiệp phát huy hiệu quả. Vì vậy, sản xuất cây lâu năm 2025 tuy có giảm nhưng mức độ giảm nhẹ, cho thấy sự ổn định về mặt quỹ đất nhưng đang có sự điều chỉnh nhỏ trong cơ cấu nội bộ ngành.Tổng diện tích gieo trồng các loại cây lâu năm thực hiện 47.693,2 ha, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích một số cây lâu năm chủ yếu như sau: Cây chè 370,2 ha, tăng 6,0%; cây cao su 30.080,1 ha, giảm 1,2%; cây cà phê 3.708,7 ha, tăng 0,1%; cây hồ tiêu 3.143,2 ha, giảm 0,1%; cam 607,8 ha, tăng 0,5%; chuối 5.058,8 ha, giảm 1,8%; ổi 578,4 ha, tăng 2,6% so với năm trước.Năng suất thu hoạch một số cây lâu năm chủ yếu: Cây chè đạt 89,25 tạ/ha, tăng 2,7%; cao su đạt 13,28 tạ/ha, tăng 2,5%; hồ tiêu đạt 11,46 tạ/ha, tăng 1,1%; cam đạt 82,60 tạ/ha, tăng 1,2%; chuối đạt 153,35 tạ/ha, tăng 2,2%; ổi đạt 73,84 tạ/ha, tăng 1,9% so với năm trước.Ứng dụng khoa học công nghệ đang trở thành hướng đi tất yếu. Các mô hình nông nghiệp thông minh với hệ thống tưới nhỏ giọt, cảm biến độ ẩm, nhật ký điện tử giúp quản lý sản xuất hiệu quả hơn. Ngoài ra do năm nay thời tiết mưa nhiều, ít sâu bệnh là điều kiện để các loại cây lâu năm sinh trưởng tốt hơn nên năng suất đa số các loại cây lâu năm đều tăng so với cùng kỳ.Sản lượng một số cây lâu năm chủ yếu: Cây chè đạt 3.093,9 tấn, tăng 10,2%; cao su 32.730,8 tấn, tăng 3,5%; hồ tiêu 3.318,4 tấn, tăng 0,9%; cà phê 4.244,3 tấn, giảm 0,8%; cam đạt 4.068,9 tấn, tăng 3,1%; chuối đạt 73.289,2 tấn, tăng 0,5%; ổi đạt 3.737,3 tấn, tăng 5,7% so với năm trước.Tình hình cây lâu năm đang chuyển dịch theo hướng tinh giản và tập trung. Diện tích giảm không đáng kể (1,0%) chủ yếu do sự thu hẹp của cây cao su, cây hồ tiêu và cây điều, trong khi các loại cây có tiềm năng mới như chè, cây ăn quả và cây lấy dầu đang được mở rộng. Đây là dấu hiệu của quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng để thích ứng với thị trường và nâng cao hiệu quả trên một đơn vị diện tích.b) Chăn nuôiTrong tháng 12, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối ổn định, gắn với nhu cầu tiêu dùng tăng vào dịp cuối năm; các hộ chăn nuôi tập trung xuất chuồng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Chăn nuôi lợn tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi dịch tả lợn Châu Phi, làm quy mô đàn lợn giảm và tốc độ tái đàn còn chậm do tâm lý e ngại dịch tái phát; chăn nuôi trâu có xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao; chăn nuôi bò duy trì mức tăng ổn định; chăn nuôi gia cầm phát triển tốt theo tín hiệu thị trường. Công tác tiêm phòng và phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được triển khai hiệu quả, góp phần hạn chế rủi ro và bảo đảm nguồn cung thực phẩm trên địa bàn.Tính đến ngày 31/12/2025, ước tính đàn trâu có 47.852 con, giảm 5,1% so với cùng thời điểm năm 2024. Nguyên nhân chủ yếu do sản xuất nông nghiệp ngày càng được cơ giới hóa, làm giảm nhu cầu sử dụng trâu làm sức kéo; bên cạnh đó, diện tích đồng cỏ tự nhiên thu hẹp, dẫn đến các hộ chăn nuôi không đẩy mạnh đầu tư phát triển đàn. Ngoài ra, chăn nuôi trâu chủ yếu tập trung ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, ít áp dụng các biện pháp thâm canh và phòng, chống dịch bệnh bài bản, nên khó mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả. Do đó, tổng đàn trâu tiếp tục xu hướng giảm trong tháng 12 cũng như cả năm 2025.Đàn bò ước tính có 146.636 con, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay giá bán thịt bò hơi vẫn ở mức khá, người chăn nuôi có lãi. Các mô hình chăn nuôi bò theo hình thức nuôi nhốt, vỗ béo đang ngày càng được mở rộng, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, tại các địa bàn miền núi như xã Hướng Phùng, xã Đakrông, việc triển khai các chính sách và dự án hỗ trợ phát triển chăn nuôi, đặc biệt là hỗ trợ con giống cho đồng bào vùng miền núi, đã góp phần ổn định và tăng quy mô đàn bò trên địa bàn.Đàn lợn (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ) ước tính có 435.428 con, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý III, dịch tả lợn Châu phi xuất hiện đã gây thiệt hại lớn đến tình hình chăn nuôi lợn, đặc biệt ở các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Số lượng lợn mắc bệnh phải tiêu hủy tăng cao, trong khi chi phí đầu vào vẫn ở mức lớn và giá lợn hơi giảm sâu khiến hoạt động chăn nuôi lợn vẫn cầm chừng. Tuy nhiên, nhờ các biện pháp kiểm soát dịch bệnh được triển khai kịp thời người tiêu dùng cũng dần yên tâm hơn, nhu cầu tiêu thụ thịt lợn bắt đầu phục hồi.Đàn gia cầm (bao gồm gà, vịt, ngan) ước tính có 10.208,6 nghìn con, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó đàn gà ước có 8.520,5 nghìn con, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi gia cầm tuy hiệu quả kinh tế không cao bằng các loại vật nuôi khác, nhưng có ưu điểm là vốn đầu tư thấp, dễ tận dụng điều kiện sẵn có của hộ gia đình và nguồn thức ăn phong phú, đa dạng; đặc biệt, trong bối cảnh dịch tả lợn Châu Phi làm giảm nguồn cung thịt lợn, nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng gia cầm tăng cao, tạo động lực để người dân mở rộng quy mô và tăng đàn gia cầm. Tình hình chăn nuôi gia cầm đang trên đà phát triển, với nhiều tín hiệu lạc quan từ thị trường. Tuy nhiên, để duy trì và phát triển bền vững, cần tiếp tục tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, hỗ trợ người nông dân tiếp cận các công nghệ tiên tiến, và mở rộng các mô hình liên kết chuỗi giá trị.Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 12 ước đạt 11.750,6 tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 189,3 tấn, giảm 0,2%; thịt bò 1.179,3 tấn, tăng 5,6%; thịt lợn 6.426,8 tấn, giảm 2,2%; thịt gia cầm 3.955,2 tấn, tăng 4,9% (trong đó: Thịt gà 2.963,1 tấn, tăng 5,9%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt bò và thịt gia cầm tăng chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu dùng cao. Sản lượng trứng gia cầm 15.942,7 ngàn quả, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thịt hơi xuất chuồng lũy kế 12 tháng ước đạt 151.303,7 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 2536 tấn, giảm 1,5%; thịt bò 13.059 tấn, tăng 6,1%; thịt lợn 86.850,4 tấn, tăng 0,3%; thịt gia cầm 48.858,3 tấn, tăng 5,4% (trong đó: Thịt gà 36.726,5 tấn, tăng 6,0%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm 197.167,4 ngàn quả, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước.Hình 3. Sản lượng thịt hơi xuất chuồngTình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm (Tính đến ngày 19/12/2025):- Dịch tả lợn châu Phi: Hiện nay, tình hình bệnh dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát; 65/65 xã, phường đã qua 21 ngày không phát sinh lợn bệnh (đạt 100%), trong đó 40 xã, phường đã công bố hết dịch theo quy định.- Bệnh cúm gia cầm: Ổ dịch cúm gia cầm tại xã Cửa Việt hiện đang được kiểm soát tốt, đã qua 17 ngày không phát sinh thêm gia cầm mắc bệnh. Lũy kế đến ngày 19/12/2025, bệnh Cúm gia cầm A/H5N1 xảy ra tại 02 hộ dân ở thôn Mai Đông, xã Cửa Việt, với tổng số gia cầm tiêu hủy là 3.000 con vịt [1].2.2. Lâm nghiệpNăm 2025, sản xuất lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, công tác phát triển trồng rừng gỗ lớn được thúc đẩy, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn trong việc phát triển nhanh và bền vững rừng FSC; công tác tuyên truyền vận động các chủ rừng được tăng cường trong việc thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững để được cấp chứng chỉ rừng, tạo nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng và đạt được các tiêu chí quốc tế quy định, phục vụ cho công nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ. Thực hiện hiệu quả việc trồng rừng thay thế đối với những diện tích rừng được chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác. Công tác phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường làm giảm thiểu thiệt hại do cháy rừng xảy ra.Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 12 năm 2025 ước đạt 2.952,3 ha, giảm 7,6%; lũy kế năm 2025 ước đạt 24.350,0 ha (chiếm khoảng 1,32% trên cả nước; tỉnh Nghệ An ước đạt 27.691 ha, tăng 5,14% so với cùng kỳ; tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 10.574 ha, tăng 7,99%), tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó rừng gỗ lớn là 23.547 ha ; xây dựng vùng nguyên liệu, phát triển hợp tác xã, nhóm hộ trồng rừng gắn với cấp chứng chỉ, dự kiến năm 2025 có thêm 20.874 ha được cấp, nâng tổng diện tích lên 57.720 ha. Thực hiện quản lý rừng bền vững cho 172.156 ha (160.156 ha rừng tự nhiên, 12.000 ha rừng trồng). Năm nay người dân đã tiến hành chuyển đổi các diện tích đất trồng lúa rẫy và các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp sang trồng rừng. Sự thay đổi này mang lại hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích đất và phù hợp với xu hướng phát triển bền vững. Bên cạnh đó, việc trồng rừng còn mang lại lợi ích môi trường rõ rệt, rừng trồng góp phần hạn chế nguy cơ sạt lở đất tại các khu vực đồi dốc, dễ bị ảnh hưởng trong mùa mưa lũ. Các đơn vị có hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn đã chú trọng đưa kỹ thuật tiên tiến áp dụng trong việc trồng và chăm sóc. Vì vậy hầu hết diện tích rừng trên địa bàn sinh trưởng, phát triển nhanh qua các năm, độ che phủ đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn.Hình 4. Sản xuất lâm nghiệpCông tác chăm sóc rừng trồng được các đơn vị và các địa phương triển khai thực hiện khá tốt. Dự ước diện tích rừng trồng được chăm sóc năm 2025 là 54.498,0 ha, tăng 1,6% so với năm trước.Công tác ươm giống cây lâm nghiệp được chú trọng để chuẩn bị cho công tác trồng rừng vào cuối năm. Ước tính tổng số cây giống năm 2025 đã ươm 37,0 triệu cây, giảm 0,3% so với năm trước, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu về lượng cây giống.Sản lượng gỗ tháng 12 năm 2025 ước đạt 200.818,0 m3, giảm 1,2%; lũy kế năm 2025 ước đạt 2.259.442 m3 (chiếm khoảng 9% trên cả nước), tăng 14,1% so với năm trước (tỉnh Nghệ An ước đạt 2.087.981 m3, tăng 4,82% so với cùng kỳ; tĩnh Hà Tĩnh ước đạt 1.210.840 m3, tăng 14,91%). Năm nay, nhiều diện tích rừng đến kỳ khai thác. Ngoài ra, một số ngành chế biến gỗ tăng trưởng trở lại sau thời kỳ khó khăn đã đẩy mạnh hoạt động sản xuất và tiêu thụ.Sản lượng củi khai thác năm 2025 ước đạt 562.430,0 ste, giảm 1,3% so với năm trước. Sản lượng củi giảm do người dân chuyển sang sử dụng bếp gas và bếp điện. Bên cạnh đó, trước đây củi còn được tiêu thụ tại các vùng đồng bằng, nhưng hiện nay nhu cầu sử dụng tại các khu vực này giảm, dẫn đến việc khai thác và sử dụng củi làm chất đốt cũng bị hạn chế.Công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Công tác kiểm tra, tuyên truyền bảo vệ rừng được các ngành chức năng tăng cường, vì thế ý thức của người dân ngày càng được nâng lên. Trong năm 2025 đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 9,5 ha, 4 vụ vi phạm rừng và diện tích rừng bị phá 0,8 ha.2.3. Thủy sảnSản xuất thuỷ sản năm 2025 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, không xảy ra dịch bệnh lớn trên các con nuôi; các phương tiện khai thác được ngư dân đầu tư cải hoán, nâng cấp, đảm bảo cho việc vươn khơi, đánh bắt dài ngày. Vì vậy, sản xuất thuỷ sản phát triển đồng bộ cả về khai thác và nuôi trồng.Hình 5. Sản lượng thủy sảnƯớc tính sản lượng thuỷ sản tháng 12 đạt 8.073,1 tấn, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản quý IV ước đạt 25.329,3 tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính năm 2025 sản lượng thuỷ sản đạt 138.606,4 tấn (chiếm khoảng 1,46% trên cả nước), tăng 0,5% so với năm trước (tỉnh Hà Tĩnh ước đạt 61.262 tấn, tăng 4,33%). Sản lượng thủy sản chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 110.624,9 tấn, tăng 1,3%; tôm đạt 10.045,8 tấn, giảm 0,9%; thủy sản khác đạt 17.935,7 tấn, giảm 3,4% so với năm trước.a) Khai thácThời tiết trong tháng tương đối thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng của bão lớn, tạo điều kiện cho tàu thuyền ra khơi khai thác. Ngư dân tích cực bám biển, tranh thủ biển lặng để tăng sản lượng đánh bắt. Ước tính sản lượng khai thác tháng 12 đạt 7.091,8 tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chia theo nhóm sản phẩm: Cá các loại 5.544,5 tấn, tăng 1,7%; tôm các loại 248,1 tấn, tăng 1,3%; thuỷ sản khác 1.299,2 tấn, tăng 1,2%.Hiệu quả khai thác được cải thiện nhờ đầu tư nâng cấp tàu thuyền, ngư cụ và áp dụng kinh nghiệm. Tuy nhiên điều kiện, phương tiện, tiềm lực, khai thác biển đầu tư phát triển chậm và nguồn lợi hải sản giảm, chi phí nhiên liệu cao nên khai thác thủy sản biển nhất là khai thác xa bờ gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, trong quý IV, các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát nhằm chống khai thác IUU. Vì vậy sản lượng khai thác thuỷ sản tăng so với năm trước, nhưng mức tăng không cao so với những năm gần đây.Ước tính sản lượng khai thác quý IV đạt 21.918,9 tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá các loại 16.641,6 tấn, tăng 1,5%; tôm các loại 684,0 tấn, tăng 0,4%; thủy sản khác 4.593,3 tấn, tăng 0,8%.Ước tính sản lượng khai thác năm 2025 đạt 116.456,9 tấn (chiếm khoảng 3,13% trên cả nước), tăng 0,6% so với năm trước. Trong đó: Cá các loại 96.914,8 tấn, tăng 1,4%; tôm các loại 2.343,6 tấn, tăng 0,9%; thủy sản khác 17.198,5 tấn, giảm 3,5%.Hoạt động quản lý tàu cá trên địa bàn được tăng cường, đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động; đến nay, đã lắp đặt 1.339/1.350 thiết bị giám sát hành trình cho tàu cá xa bờ đạt (chiếm 99,2%, còn 11 tàu), đồng thời quản lý chặt chẽ đăng ký, đăng kiểm, cấp giấy chứng nhận khai thác tàu cá theo hạn ngạch (Đã cấp giấy phép khai thác thủy sản: 4.599/4.664 tàu, đạt 98,6% (còn 65 tàu); đánh dấu tàu cá: 4.664/4.664 tàu, đạt 100%; cập nhật 100% thông tin tàu cá đăng ký, đăng kiểm, cấp giấy phép khai thác và danh sách tàu có nguy cơ cao trên hệ thống. Có 1.294/1.350 tàu được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP, chiếm 95,85% (còn 56 tàu). Quảng Trị không còn tàu cá 3 không, 100% tàu cá đã đăng ký).b) Nuôi trồngDiện tích nuôi trồng thủy sản trên toàn tỉnh năm 2025 ước tính là 9.748 ha, giảm 0,82% so cùng kỳ, tương đương giảm 81 ha, nguyên nhân giảm chủ yếu một số diện tích ảnh hưởng do mưa, bão nên không thả nuôi. Nhiều mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học được triển khai và nhân rộng, bước đầu mang lại hiệu quả tích cực (tổng diện tích toàn tỉnh là 192,7 ha; trong đó: 100,3 ha Công ty TNHH Thủy sản CNC Việt Nam đầu tư; Vĩnh Linh 29,7 ha, Gio Linh 8,4 ha, Triệu Phong 5,3 ha, Hải Lăng 8,1 ha, Đông Hà 9,7 ha, Đồng Hới 11,2 ha; Quảng Ninh 20 ha; đối tượng chủ yếu là tôm thẻ chân trắng). Một số mô hình nuôi biển, có giá trị kinh tế như cá bớp, cá mú, ốc hương…và nuôi thủy sản nước ngọt như nuôi cá mặt nước lớn, nuôi cá lồng,… tiếp tục phát huy hiệu quả. Các giống thủy sản có năng suất, chất lượng cao ngày càng được sử dụng phổ biến. Công tác tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản tiếp tục được quan tâm triển khai, đã thả 25.000 con cá giống tại Hồ Ái Tử, 57.000 con cá giống nước ngọt tại sông Kiến Giang và 1.000.000 con tôm sú giống tại bến sông Nhật Lệ, 400.000 con tôm sú giống tại sông Gianh.Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 12 năm 2025 ước đạt 981,3 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá các loại 596,3 tấn, tăng 2,0%; tôm các loại 332,4 tấn, tăng 3,1%; thủy sản khác 52,6 tấn, tăng 3,3%. Sản lượng thu hoạch cá tăng do đầu năm mưa rét kéo dài khiến thả giống muộn và trong tháng ít lũ lụt hơn cùng kỳ nên sản lượng thu hoạch tăng; tôm tăng do trong năm Công ty thủy sản công nghệ cao mở rộng diện tích nuôi tôm; thủy sản khác tăng do nuôi ốc hương bước vào vụ thu hoạch.Năm 2025 trên địa bàn tỉnh bị ảnh hưởng của các cơn bão và trong quý IV thời tiết diễn biến bất thường, nhiệt độ thấp và mưa kéo dài ảnh hưởng đến sinh trưởng của thủy sản nuôi trồng; một số diện tích nuôi bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, môi trường nước biến động; chi phí đầu vào tăng và giá tiêu thụ chưa thật sự ổn định đã làm cho người nuôi thân trọng trong việc thả nuôi. Tuy nhiên, nhờ tranh thủ tối đa các nguồn lực cùng với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp các ngành và sự chủ động ứng phó, thích nghi của các hộ nuôi nên sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2025 có tăng nhẹ so với năm trước.Ước tính quý IV sản lượng nuôi trồng thu hoạch 3.410,4 tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng nuôi trồng chia theo nhóm sản phẩm: Cá các loại 2.129,8 tấn, tăng 1,3%; tôm các loại 1.108,8 tấn, tăng 2,0%; thuỷ sản khác 171,8 tấn, tăng 0,8%.Ước tính năm 2025 sản lượng nuôi trồng thu hoạch 22.149,5 tấn (chiếm khoảng 3,38% trên cả nước), tăng 0,1% so với năm trước. Sản lượng nuôi trồng chia theo nhóm sản phẩm: Cá các loại 13.710,1 tấn, tăng 1,0%; tôm các loại 7.702,2 tấn, giảm 1,4%; thuỷ sản khác 737,2 tấn, giảm 1,5% so với năm trước.3. Công nghiệpSản xuất công nghiệp quý IV và cả năm 2025 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Với quyết tâm hoàn thành các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ giai đoạn 2021-2025, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Cùng với đó, các doanh nghiệp công nghiệp tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới công nghệ, chú trọng hơn vào chất lượng sản phẩm, mở rộng tìm kiếm thị trường tiêu thụ nên nhiều doanh nghiệp đã có các đơn hàng mới để tiếp tục đẩy mạnh sản xuất. Một số ngành sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy có mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp duy trì tăng trưởng. Các năng lực mới được đầu tư và đi vào hoạt động trong thời gian qua phát huy được hiệu quả như Nhà máy sản xuất và gia công may mặc Pi Vina; Nhà máy điện gió Hải Anh; Nhà máy điện gió Hướng Linh 4. Bên cạnh kết quả đạt được, sản xuất công nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn, ngành khai thác quặng kim loại doanh nghiệp chưa gia hạn kí thêm được hợp đồng mới; một số ngành công nghiệp sản xuất giảm và cầm chừng, nguồn nguyên liệu bị ảnh hưởng của đợt lũ bất thường vào tháng 6; một số dự án điện gió đạt sản lượng thấp do thời tiết không thuận lợi, tốc độ gió thay đổi đột ngột không đạt đến mức tối ưu, một số dự án ngừng để bảo trì, bảo dưỡng đã đã ảnh hưởng chung đến tăng trưởng của ngành công nghiệp.Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12 năm 2025 tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 1,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,7%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,4%.Hình 6. Chỉ số sản xuất của ngành công nghiệpChỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) quý IV năm 2025 ước tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 8,4% so với năm 2024. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 10,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,4%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,2% so với năm 2024.Trong ngành công nghiệp cấp 2, một số ngành có chỉ số sản xuất năm 2025 tăng cao so với năm 2024 như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 14,8%; sản xuất sản phẩm từ phi kim loại đúc sẵn tăng 11,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,8%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,5%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 9,2%; sản xuất trang phục tăng 8,5%; in, sao chép bản in các loại tăng 8,0%. Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 5,3%; khai thác quặng kim loại giảm 42,8% (ngành khai thác quặng kim loại giảm mạnh chủ yếu do một số mỏ khai thác thời gian dài bắt đầu cạn kiệt, hàm lượng kim loại trong quặng thấp, khiến chi phí khai thác tăng cao không còn hiệu quả kinh tế nên doanh nghiệp tạm dừng khai thác. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp tồn kho cao, chưa tiêu thụ hết nên giảm sản lượng khai thác).Sản lượng sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2025 tăng so với năm 2024 như: đá xây dựng đạt 2.640.558 m3, tăng 8,9%; cao lanh đạt 119.285 tấn, tăng 43,8%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 36.314 tấn, tăng 0,5%; áo sơ mi đạt 13.626 nghìn cái, tăng 11,6%; dăm gỗ đạt 895.254 tấn, tăng 14,3%; ván ép từ gỗ đạt 306.471 m3, tăng 13,0%; viên gỗ đạt 47.227 tấn, tăng 73,3%; Clinker thành phẩm đạt 2.928.151 tấn, tăng 10,1%; thủy điện đạt 774 triệu kWh, tăng 11,6%;... Một số sản phẩm sản xuất năm 2025 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Quặng ilmenite đạt 12.591 tấn, giảm 41,4%; Quặng titan đạt 24.444 tấn, giảm 43,4%; nước khoáng có ga đạt 1.534 nghìn lít, giảm 14,1%; cao su tổng hợp và cao su tự nhiên đạt 6.525 tấn, giảm 19,2%; điện mặt trời đạt 271 triệu kWh, giảm 7,5%.Hình 7. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong năm 20254. Phát triển doanh nghiệp và các thành phần kinh tếa) Phát triển kinh tế tư nhân, cải thiện môi trường kinh doanhĐã khẩn trương chỉ đạo xây dựng và ban hành Chương trình hành động số 03-CTr/TU ngày 15/8/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị và Kế hoạch hành động số 537/KH-UBND ngày 15/8/2025 của UBND tỉnh triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Quyết định thành lập Ban chỉ đạo của UBND tỉnh triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch số 1407/KH-UBND ngày 16/10/2025 của UBND tỉnh về việc nâng cao chỉ số PCI Quảng Trị năm 2025 và các năm tiếp theo, theo đó đã chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương thực hiện các nhiệm vụ giải pháp về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh trong năm 2025.Công tác rà soát, đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án, hướng dẫn các thủ tục về chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư của tỉnh tiếp tục được chú trọng; đã hỗ trợ Công ty Cổ phần Tập đoàn Mặt Trời (SunGroup) nghiên cứu, triển khai các dự án đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, hướng tới các sản phẩm đẳng cấp quốc tế; làm việc với nhiều nhà đầu tư tiềm năng tìm hiểu cơ hội đầu tư tại tỉnh; đồng thời giám sát và quyết liệt xử lý các dự án chậm tiến độ. Các hoạt động xúc tiến đầu tư được tăng cường triển khai nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh, nổi bật là các Chương trình Quảng bá địa phương tại Hàn Quốc và Trung Quốc về xúc tiến du lịch và đầu tư.b) Về công tác đăng ký kinh doanhTrong năm 2025, dự kiến cấp đăng ký thành lập mới giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 1.250 doanh nghiệp với số vốn đăng ký hơn 13.000 tỷ đồng (tăng 42,2% về số lượng doanh nghiệp và 32,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ). Đến hết năm 2025, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh ước đạt hơn 10.000 doanh nghiệp.c) Về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN)Đã tăng cường công tác chỉ đạo thực hiện công tác sắp xếp, đổi mới DNNN; hướng dẫn triển khai các trình tự, thủ tục để chuyển nhượng vốn nhà nước đối với 04 doanh nghiệp thực hiện thoái vốn giai đoạn 2024-2025. Thực hiện thủ tục để chuyển đổi Trung tâm Đào tạo sát hạch xe Quảng Trị thành công ty cổ phần.d) Kinh tế hợp tácKinh tế hợp tác được củng cố về tổ chức, nâng cao năng lực nội tại, tích lũy đầu tư phát triển, nhiều mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã (HTX) hoạt động hiệu quả và ngày càng được nhân rộng. Trong năm 2025 đã thành lập mới 01 liên hiệp HTX trong lĩnh vực nông nghiệp; hoàn thành chuyển đổi cơ quan quản lý đối với Quỹ hỗ trợ phát triển HTX sau sáp nhập. Dự kiến đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 04 Liên hiệp HTX, 910 HTX hoạt động, 35 Quỹ tín dụng nhân dân đóng vai trò hỗ trợ thành viên về phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, tạo việc làm tại chỗ, góp phần phát triển các sản phẩm công nghiệp nông thôn, OCOP phục vụ xây dựng nông thôn mới.5. Đầu tư và xây dựnga) Vốn đầu tưNăm 2025 là năm cuối của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021 - 2025. Trong bối cảnh đó, công tác đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục được các cấp, các ngành và địa phương quan tâm chỉ đạo, tập trung nguồn lực để triển khai các dự án trọng điểm, nhất là các công trình hạ tầng giao thông, thủy lợi, đô thị và các dự án phục vụ đời sống nhân dân. Kết quả vốn đầu tư thực hiện trong quý IV và cả năm 2025 như sau:Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn: Vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh quý IV năm 2025 ước thực hiện 21.826,7 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2025, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh ước đạt 70.125,6 tỷ đồng, tăng 21,1% so với năm 2024. Trong đó: vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước ước đạt 28.216,3 tỷ đồng, tăng 51,0%; khu vực ngoài nhà nước ước đạt 41.684,5 tỷ đồng, tăng 7,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 224,8 tỷ đồng, giảm 62,0%.Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN) trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý: Trong quý IV năm 2025, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn NSNN do địa phương quản lý ước thực hiện 3.513,9 tỷ đồng, tăng 42,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2025, vốn đầu tư thuộc nguồn vốn NSNN do địa phương quản lý thực hiện 10.085,8 tỷ đồng, tăng 33,5% so với năm 2024. Trong đó: Vốn NSNN cấp tỉnh thực hiện 9.640,7 tỷ đồng, tăng 39,3%; vốn NSNN cấp xã thực hiện 445,1 tỷ đồng, giảm 30,0% so với năm trước.Hình 8. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lýb) Xây dựngGiá trị tăng thêm ngành xây dựng (theo giá so sánh 2010) ước tính thực hiện quý IV năm 2025 tăng 13,84% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2025, giá trị tăng thêm ngành xây dựng tăng 13,01% so với năm 2024.Trong quý IV năm 2025, nhiều công trình, dự án lớn tiếp tục được triển khai thực hiện như: Dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch; Dự án Nhà ga hành khách T2 và mở rộng sân đỗ máy bay - Cảng hàng không Đồng Hới; Dự án Khu công nghiệp Cam Liên; Dự án Cảng tổng hợp quốc tế Hòn La; Dự án Đường ven biển và Cầu Nhật lệ 3; Dự án Khu công nghiệp Quảng Trị; Dự án Cảng hàng không Quảng Trị; Dự án Khu bến cảng Mỹ Thủy; Dự án đường ven biển kết nối Hành lang kinh tế Đông Tây - giai đoạn 1; Đường tránh phía Đông thành phố Đông Hà;… Bên cạnh đó, một số công trình, dự án lớn đã được khởi công trong năm như: Dự án Khu nghỉ dưỡng Phú Ninh; Dự án Nhà ở xã hội Bảo Ninh 1; Dự án Khu công nghiệp Tây Bắc Hồ Xá; Dự án Trang trại chăn nuôi lợn công nghệ cao Gia Hân; Dự án Khu vực 1 tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) cho Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam; đặc biệt là 3 dự án đô thị quy mô lớn của Tập đoàn Sun Group gồm: Khu đô thị hỗn hợp ven biển Nhật Lệ; Khu đô thị hỗn hợp trung tâm Đồng Hới và Khu đô thị hỗn hợp phía Tây sông Lệ Kỳ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, kiến tạo hệ thống đô thị văn minh, hiện đại, đồng bộ về hạ tầng và du lịch, tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, mở ra động lực phát triển mới cho địa phương.6. Thương mại, dịch vụa) Tổng mức bán lẻ hàng hoáNăm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng so với năm 2024, phản ánh sự phát triển của hoạt động thương mại - dịch vụ. Hệ thống siêu thị, cửa hàng bán lẻ và chợ truyền thống hoạt động ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của người dân. Nhu cầu đối với nhóm hàng lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu tăng do đời sống và hoạt động sản xuất từng bước được cải thiện. Hoạt động du lịch, dịch vụ duy trì đà tăng trưởng tích cực, nhất là trong các dịp lễ, tết, góp phần thúc đẩy doanh thu ngành thương mại. Bên cạnh đó, thương mại điện tử tiếp tục phát triển, mở rộng kênh phân phối hàng hóa. Công tác quản lý thị trường được tăng cường, góp phần ổn định giá cả và môi trường kinh doanh. Nhìn chung, tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2025 của tỉnh tăng trưởng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương.Tháng 12 năm 2025, hoạt động thương mại diễn ra khá sôi động, nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tăng, nguồn cung dồi dào, đáp ứng kịp thời nhu cầu mua sắm của người dân. Các chương trình khuyến mãi, kích cầu tiêu dùng được triển khai rộng rãi, góp phần thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa vào dịp cuối năm. Vì vậy, doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 12/2025 tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 12/2025 ước đạt 7.428,7 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 2.799,2 tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 13,7% so với cùng kỳ; nhóm may mặc ước đạt 810,5 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 690,3 tỷ đồng, tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục ước đạt 76,0 tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.023,7 tỷ đồng, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước đạt 526,2 tỷ đồng, tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 7,0% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước đạt 306,1 tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 10,0% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước đạt 735,6 tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 16,9% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác ước đạt 29,5 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ; nhóm đá quý, kim loại quý ước đạt 89,8 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 15,9% so với cùng kỳ; nhóm hàng hóa khác ước đạt 191,4 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước đạt 150,4 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 11,4% so với cùng kỳ.Hình 9. Tổng mức bán lẻ hàng hóaƯớc tính quý IV năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 22.147,9 tỷ đồng, giảm 1,2% so với quý trước, tăng 13,7% so với cùng kỳ. Ước tính cả năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 88.312,7 tỷ đồng, tăng 12,5% so với năm 2024, chiếm tỷ trọng cao nhất là nhóm lương thực, thực phẩm tăng 13,4%, đóng góp tăng 5,1 điểm phần trăm; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 10,6%, đóng góp tăng 1,5 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa.b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hànhNăm 2025, doanh thu các ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tiếp tục tăng trưởng tích cực so với năm 2024. Du lịch Quảng Trị năm 2025 sôi động với nhiều sự kiện như Tuần Du lịch năm 2025 (tháng 5) và lễ hội âm nhạc Legend Fest (tháng 4), kết hợp khám phá các điểm đến nổi tiếng (Phong Nha-Kẻ Bàng, biển Nhật Lệ, Vũng Chùa, đảo Cồn Cỏ) với nhiều tour du lịch đa dạng từ khám phá hang động, biển, văn hóa, lịch sử - tâm linh đến nghỉ dưỡng cao cấp. Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch tiếp tục được tăng cường; chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển du lịch thông minh được đẩy mạnh, góp phần nâng cao trải nghiệm du khách. Hình ảnh và sản phẩm du lịch Quảng Trị tiếp tục được quảng bá rộng rãi trên các nền tảng truyền thông trong nước và quốc tế, khẳng định vị thế là điểm đến an toàn, hấp dẫn. Bên cạnh đó thu nhập và mức sống của người dân được cải thiện, kéo theo nhu cầu sử dụng các dịch vụ lưu trú, ăn uống, lữ hành ngày càng gia tăng. Các cơ sở kinh doanh dịch vụ được đầu tư nâng cấp hạ tầng, chất lượng dịch vụ để đáp ứng tốt nhu cầu của du khách, nhất là mùa cao điểm.Vì vậy doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành năm 2025 tăng cao so với năm 2024.- Dịch vụ lưu trú:Dịch vụ lưu trú tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 12/2025 ước đạt 89,9 tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 19,2% so với cùng kỳ. Ước tính doanh thu dịch vụ lưu trú quý IV/2025 đạt 274,1 tỷ đồng, giảm 23,4% so với quý trước và tăng 17,9% so với cùng kỳ; năm 2025 ước đạt 1.197,5 tỷ đồng, tăng 17,2% so với năm 2024.Số lượt khách lưu trú tháng 12/2025 ước đạt 306.924 lượt khách, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 21,5% so với cùng kỳ; số lượt khách lưu trú quý IV/2025 ước tính đạt 923.790 lượt khách, giảm 20,6% so với quý trước, tăng 26,7% so với cùng kỳ; năm 2025 ước đạt 3,88 triệu lượt khách, tăng 17,2% so với năm trước, trong đó số lượt khách quốc tế ngủ qua đêm đạt 135,9 nghìn lượt khách, tăng 0,9% so với năm 2024.- Dịch vụ ăn uống:Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 12/2025 ước đạt 844,4 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 21,5% so với cùng kỳ; quý IV/2025 ước tính đạt 2.591,4 tỷ đồng, giảm 15,6% so với quý trước, tăng 18,4% so với cùng kỳ; năm 2025 ước đạt 10.792,3 tỷ đồng, tăng 16,4% so với năm 2024.Hình 10. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống- Du lịch lữ hành:Ước tính tháng 12/2025 doanh thu hoạt động lữ hành đạt 31,3 tỷ đồng, tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ; quý IV/2025 ước tính đạt 94,5 tỷ đồng, giảm 42,6% so với quý trước, tăng 9,4% so với cùng kỳ; năm 2025 đạt 606,9 tỷ đồng, tăng 19,1% so với năm 2024.Hình 11. Dịch vụ du lịch lữ hànhSố lượt khách du lịch lữ hành tháng 12 ước đạt 67.650 lượt khách, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 28,2% so với cùng kỳ; quý IV/2025 ước tính đạt 200.010 lượt khách, giảm 34,7% so với quý trước và tăng 6,0% so với cùng kỳ; năm 2025 ước đạt 1.015.786 lượt khách, tăng 15,2% so với năm trước; trong đó số lượt khách quốc tế lữ hành đạt 104.541 lượt khách, tăng 8,6% so với năm 2024.c) Các ngành kinh doanh dịch vụCác ngành kinh doanh dịch vụ tăng trưởng khá cao trong năm 2025, nhờ sự phát triển của ngành du lịch nên nhu cầu tiêu dùng, vui chơi, giải trí, làm đẹp,... của người dân tăng cao. Năm 2025, hoạt động kinh doanh bất động sản diễn ra sôi động và hấp dẫn, việc phát triển hạ tầng và tăng kết nối vùng góp phần củng cố vị thế Quảng Trị như một điểm đầu tư tiềm năng trong khu vực.Ước tính doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ tháng 12 đạt 472,5 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 18,0% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm dịch vụ đều tăng với tháng trước như sau: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 0,2%; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 0,8%; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 1,0%; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 0,5%; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 2,2%; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình tăng 0,7%; nhóm dịch vụ khác tăng 2,3%.Ước tính doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ quý IV/2025 đạt 1.414,0 tỷ đồng, giảm 0,9% so với quý trước, tăng 18,3% so với cùng kỳ. Năm 2025 ước đạt 5.385,1 tỷ đồng, tăng 15,0% so với năm trước. Xét theo từng nhóm dịch vụ, hầu hết các nhóm dịch vụ đều tăng khá cao từ 11,8% - 21,3% so với năm 2024, cụ thể các nhóm có đóng góp tăng cao trong tổng số tăng chung của các ngành kinh doanh dịch vụ đó là: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 19,5%, đóng góp tăng 2,9 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 21,3%, đóng góp tăng 3,0 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 11,9%, đóng góp tăng 1,0 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ khác tăng 18,5%, đóng góp tăng 4,5 điểm phần trăm.d) Hoạt động vận tảiTháng 12 là tháng cuối năm dương lịch, thời tiết thuận lợi hơn nên nhu cầu đi lại của người dân tăng so với tháng trước; bên cạnh đó, nhiều dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh và hộ dân cư đẩy nhanh tiến độ hoàn thành trước tết Nguyên đán nên nhu cầu vận chuyển nguyên, vật liệu, thiết bị phục vụ cho các công trình tăng, do đó doanh thu hoạt động vận tải tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 12 ước đạt 810,0 tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách ước tính đạt 123,5 tỷ đồng, tăng 15,2%; vận tải hàng hóa ước tính đạt 613,5 tỷ đồng, tăng 15,9%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tính đạt 73,0 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước.Quý IV/2025, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước đạt 2.385,6 tỷ đồng, giảm 1,0% so với quý trước và tăng 13,7% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách ước tính đạt 367,4 tỷ đồng, giảm 0,8% so với quý trước và tăng 14,6% so với cùng kỳ; vận tải hàng hóa ước tính đạt 1.801,0 tỷ đồng, giảm 0,9% so với quý trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tính đạt 217,2 tỷ đồng, tăng 0,4% so với quý trước và tăng 11,0% so với cùng kỳ.Năm 2025, hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, phản ánh sự phục hồi và phát triển tích cực của nền kinh tế. Hệ thống hạ tầng giao thông được quan tâm đầu tư, sửa chữa và nâng cấp đồng bộ, góp phần nâng cao năng lực vận chuyển và kết nối liên vùng. Ngành Giao thông vận tải đã chủ động triển khai hiệu quả các giải pháp quản lý, điều hành, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp vận tải hoạt động ổn định và mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh.Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát năm 2025 ước đạt 9.412,1 tỷ đồng, tăng 13,1% so với năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước đạt 1.434,3 tỷ đồng, tăng 12,5%; vận tải hàng hóa ước đạt 7.126,0 tỷ đồng, tăng 13,7%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước đạt 851,7 tỷ đồng, tăng 9,7% so với năm trước, cho thấy nhu cầu vận chuyển và dịch vụ logistics tiếp tục gia tăng. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách và vận tải hàng hóa đều tăng khá cao, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và lưu thông hàng hóa phục vụ sản xuất, tiêu dùng. Dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát duy trì mức tăng trưởng, phù hợp với xu hướng phát triển thương mại và dịch vụ hiện đại. Nhìn chung, lĩnh vực vận tải đã và đang đóng vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2025.Hình 12. Doanh thu hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải- Vận tải hành kháchƯớc tính tháng 12/2025, số lượt hành khách vận chuyển đạt 4,8 triệu hành khách, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 15,2% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 216,0 triệu hành khách.km, tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 15,3% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 số lượt hành khách vận chuyển ước đạt 14,2 triệu hành khách, giảm 1,8% so với quý trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 642,7 triệu hành khách.km, giảm 1,8% so với quý trước và tăng 14,6% so với cùng kỳ. Ước tính năm 2025, số lượt hành khách vận chuyển đạt 55,5 triệu hành khách, tăng 12,5%; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 2.508,5 triệu hành khách.km, tăng 12,6% so với năm trước.- Vận tải hàng hóaƯớc tính khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 12/2025 đạt 5,2 triệu tấn, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 15,9% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 318,8 triệu tấn.km, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 14,3% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 khối lượng hàng hóa vận chuyển ước đạt 15,3 triệu tấn, giảm 0,9% so với quý trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 939,5 triệu tấn.km, giảm 1,6% so với quý trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ. Ước tính cả năm 2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 60,6 triệu tấn, tăng 13,7%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 3.836,3 triệu tấn.km, tăng 17,0% so với năm trước.đ) Bưu chính, viễn thôngToàn tỉnh có 301 trạm 5G hoạt động, tỷ lệ dân số được phủ sóng đạt 44,9% (so với mục tiêu 50% đến 2025); tỷ lệ thôn, bản được phủ sóng băng rộng di động đạt 99,4%; tỷ lệ thôn, bản có hạ tầng băng rộng cố định (cáp quang FTTH) đạt 95,9%; 100% trung tâm xã, phường, đặc khu có cáp quang.Toàn tỉnh có 1.645.238 thuê bao điện thoại, đạt mật độ 103,2 thuê bao/100 dân, trong đó 16.661 thuê bao cố định và 1.628.577 thuê bao di động; 87,2% hộ gia đình có thiết bị di động và 84,6% hộ gia đình có kết nối Internet băng rộng cáp quang (FTTH); tỷ lệ người dân có tài khoản định danh điện tử (VNeID) đạt 72,7%.e) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Quảng Trị trong tháng 12 năm 2025 tăng 0,24% so với tháng trước; tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 12 tháng đầu năm 2025 CPI tăng 3,83% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: khu vực thành thị tăng 3,65%, khu vực nông thôn tăng 3,93%).Nguyên nhân làm tăng CPI tháng 12 năm 2025 so với tháng trước:Một số mặt hàng thiết yếu tăng như giá điện, nước, gas, gạo, thủy hải sản và các mặt hàng rau củ,… do tháng này thời tiết không thuận lợi, chi phí đầu vào tăng nên giá các mặt hàng thiết yếu tăng.So với tháng trước, CPI tháng 12/2025 tăng 0,24% (khu vực thành thị tăng 0,38%, khu vực nông thôn tăng 0,13%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá, 01 nhóm giảm giá, 03 nhóm hàng ổn định. Cụ thể có 7 nhóm CPI tăng đó là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,80%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,03%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,11%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,23%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,05%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,03%; nhóm thiết bị đồ dùng và gia đình tăng 0,01%. Có 3 nhóm hàng hóa ổn định đó là nhóm thuốc và dịch vụ y tế, bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục. Nhóm giao thông giảm 0,82% so với tháng trước, giảm chủ yếu do giá xăng dầu giảm.Hình 13. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 12/2025 so với tháng trước- Chỉ số giá vàng 99,99%Trong tháng 12/2025 giá vàng dao động quanh mức 14,489 triệu đồng/chỉ vàng 9999, chỉ số giá vàng tăng 1,91% so với tháng trước, tăng 66,73% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 12 tháng năm 2025 giá vàng tăng 45,93% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ (USD)Giá đô la Mỹ (USD) bình quân tháng 12/2025 dao động quanh mức 26.406 VNĐ/USD, tăng 1,13% so với tháng trước, tăng 5,10% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 12 tháng tăng 4,24% so với cùng kỳ.7. Tài chính, tín dụnga) Tài chínhĐể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, từ đầu năm 2025, các cấp, các ngành đã tập trung tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý thu ngân sách nhà nước, mở rộng cơ sở thuế, đảm bảo thu đúng, đủ, kịp thời các khoản thu phát sinh. Đồng thời, đẩy mạnh chống thất thu, quản lý có hiệu quả các nguồn thu mới phát sinh từ các giao dịch thương mại điện tử; quyết liệt xử lý, đôn đốc thu hồi nợ thuế; phấn đấu hoàn thành thu ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2025 ở mức cao nhất. Nhờ đó, tổng thu NSNN cả năm ước thực hiện gần 14.065 tỷ đồng, vượt 26% so với dự toán Trung ương giao và 18,3% so với dự toán địa phương giao, tăng 16,5% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa ước đạt 11.365 tỷ đồng, tăng 20,9% so với cùng kỳ; thu xuất nhập khẩu ước đạt 2.700 tỷ đồng, tăng 0,6% so với cùng kỳ.UBND tỉnh đã chỉ đạo, điều hành chi ngân sách nhà nước đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, đúng chế độ quy định, đặc biệt tập trung chỉ đạo chi ngân sách và quản lý, sử dụng tài sản công đảm bảo kịp thời cho các nhiệm vụ sắp xếp đơn vị hành chính, triển khai chính quyền địa phương 2 cấp, giải quyết chính sách chế độ do sắp xếp tổ chức bộ máy và khắc phục thiệt hại do thiên tai, mưa lũ gây ra. Tổng chi NSNN năm 2025 ước thực hiện hơn 38.000 tỷ đồng, đạt 126,7% dự toán HĐND tỉnh giao.b) Tín dụngCác tổ chức tín dụng, chi nhánh tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi, giữ vững ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, thị trường vàng; tập trung triển khai các chương trình tín dụng hỗ trợ sản xuất, tiêu dùng như cho vay nhà ở xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ số; tín dụng lĩnh vực nông, lâm, thủy sản,... Ước tính đến 31/12/2025, tổng số vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 136.508 tỷ đồng, tăng 18,3% so với đầu năm; tổng dư nợ cho vay đạt 168.533 tỷ đồng, tăng 13,2% so với đầu năm. Đã tiếp tục triển khai hiệu quả công tác đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt.II. XÃ HỘI1. Y tếNăm 2025, ngành y tế tỉnh Quảng Trị tiếp tục được củng cố và phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai chủ động, hiệu quả, không để xảy ra dịch lớn trên địa bàn. Hoạt động khám, chữa bệnh tại các tuyến được duy trì ổn định, chất lượng từng bước nâng cao; y tế cơ sở tiếp tục được quan tâm đầu tư. Các chương trình y tế - dân số, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và bảo đảm an toàn thực phẩm được thực hiện đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng đời sống và an sinh xã hội của người dân. Tình hình các bệnh truyền nhiễm 12 tháng năm 2025 đều được kiểm soát tốt. Tính từ đầu năm đến ngày 19/12/2025, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 1.371 ca sốt xuất huyết, 1.094 ca sởi, 210 ca tay chân miệng, 520 ca thuỷ đậu.Tính đến ngày 10/12/2025, số người nhiễm HIV toàn tỉnh là 910 người, trong đó tử vong 273 người, hiện tại có 637 người nhiễm HIV đang còn sống.Công tác an toàn thực phẩm quý IV năm 2025 được chú trọng mạnh mẽ, các cơ quan quản lý nhà nước nâng cao vai trò, trách nhiệm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ đúng các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, giết mổ, chế biến thực phẩm, bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Tính đến ngày 19/12/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 3 vụ ngộ độc thực phẩm làm 105 người bị ngộ độc, trong đó 57 người đi viện, ko có trường hợp tử vong.2. Giáo dục, đào tạoTrong quý IV/2025, ngành giáo dục tổ chức kỳ thi học sinh giỏi lớp 12 năm học 2025 - 2026 với 2.762 thí sinh tham gia dự thi trên tổng số 2.766 thí sinh đăng ký; đối tượng dự thi gồm học sinh lớp 10, 11 và 12 đến từ các trường THPT, THCS-THPT và trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trên địa bàn. Kết quả, toàn tỉnh có 1.631 thí sinh đoạt giải, gồm: 69 giải nhất, 341 giải nhì, 542 giải ba, 679 giải khuyến khích.Kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia PTTH năm học 2025 - 2026 đã diễn ra vào ngày 25-26/12/2025, tỉnh Quảng Trị có 174 học sinh tham dự, được tuyển chọn từ các trường THPT trên địa bàn tỉnh. Đây là lực lượng nòng cốt, đại diện cho chất lượng giáo dục mũi nhọn của Quảng Trị tham gia sân chơi trí tuệ cấp quốc gia THPT năm nay.Năm 2025, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh tiếp tục được củng cố và phát triển; công tác quản lý nhà nước về giáo dục được tăng cường, các chương trình đổi mới giáo dục và xây dựng xã hội học tập được triển khai đồng bộ. Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành vẫn còn gặp khó khăn về thiếu biên chế giáo viên và cơ sở vật chất chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, cần tiếp tục được quan tâm đầu tư trong thời gian tới.Năm học 2025 - 2026, quy mô trường, lớp của các bậc học tiếp tục được rà soát, sắp xếp hợp lý, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đáp ứng nhu cầu người học. Đến nay, toàn tỉnh có 930 trường mầm non và phổ thông, trong đó có 896 trường công lập (bao gồm 04 trung tâm trẻ khuyết tật, giáo dục chuyên biệt) và 34 trường dân lập.Tổng số giáo viên năm học 2025 - 2026 là 26.608 người, trong đó, mầm non 8.044 người; tiểu học 8.796 người; trung học cơ sở 6.162 người; trung học phổ thông 3.341 người; giáo dục thường xuyên 265 người. Tổng số học sinh là 431.346 học sinh, học viên, trong đó, cấp học mầm non có 88.900 trẻ; cấp tiểu học có 156.572 học sinh; cấp THCS có 122.096 học sinh; cấp THPT có 57.727 học sinh; GDTX có 6.051 học viên. Tỷ lệ phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi đạt chuẩn, giáo dục tiểu học đạt chuẩn mức độ 3, trung học cơ sở đạt chuẩn mức độ 1, xóa mù chữ đạt chuẩn mức độ 2.Toàn tỉnh, tổng số trường công lập đạt chuẩn quốc gia là 533/892, đạt tỷ lệ 59,75%, trong đó: Mầm non có 197/310 trường, đạt tỷ lệ 63,55%; Tiểu học có 134/232 trường, đạt tỷ lệ 57,76%; TH&THCS có 68/120 trường, đạt tỷ lệ 56,67%; THCS có 97/169 trường, đạt tỷ lệ 57,40%; THPT có 37/61 trường, đạt tỷ lệ 60,66%.3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thaoa) Hoạt động văn hóaTrong quý IV/2025, lĩnh vực văn hóa được triển khai toàn diện, bám sát nhiệm vụ chính trị và định hướng bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển cộng đồng, gắn liền với đời sống người dân và quảng bá hình ảnh địa phương. Các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, biểu diễn nghệ thuật và bảo tồn di sản được tổ chức liên tục, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tiêu biểu như việc tổ chức các lớp tập huấn truyền dạy văn hóa phi vật thể cho đồng bào Bru-Vân Kiều, trưng bày hình ảnh bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, cuộc thi “Tiếng hát gia đình” cấp tỉnh và các hoạt động chiếu phim lưu động phục vụ cơ sở, qua đó góp phần nâng cao đời sống tinh thần và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.Tỉnh đã và đang tổ chức chuỗi sự kiện văn hóa - nghệ thuật phục vụ người dân và du khách nhân dịp cuối năm, nổi bật là các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, gian hàng ẩm thực - sản phẩm OCOP, không gian văn hóa truyền thống và chương trình đếm ngược chào đón năm mới 2026 tại Đồng Hới, Phong Nha và Nam Đông Hà, nhằm kết hợp giữa nét truyền thống và hiện đại để thu hút khách du lịch và thúc đẩy du lịch văn hóa địa phương. Những hoạt động này tạo nên không khí lễ hội sôi động, góp phần quảng bá bản sắc văn hóa, ẩm thực và du lịch Quảng Trị trên quy mô cả nước. Toàn tỉnh có 91,2% hộ gia đình được công nhận danh hiệu Gia đình văn hóa, thể hiện sự chuyển biến rõ nét trong xây dựng nếp sống văn minh, gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Bên cạnh đó, 51,5% thôn, bản, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa theo kế hoạch, tạo nền tảng quan trọng trong xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh ở cơ sở.b) Hoạt động thể dục, thể thao- Thể thao quần chúng: Trong quý IV năm 2025, nhằm tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 2221/KH-UBND ngày 03/12/2025 về kế hoạch tổ chức Tháng hoạt động thể dục thể thao cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân giai đoạn 2025 - 2030 trên địa bàn tỉnh. Tỷ lệ người dân tham gia tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên ước đạt trên 38%, góp phần nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống. Phong trào xây dựng gia đình thể thao được duy trì và mở rộng, với tỷ lệ gia đình thể thao ước đạt khoảng 26%, từng bước hình thành lối sống lành mạnh, tích cực trong cộng đồng dân cư.Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh gắn với việc tổ chức Đại hội TDTT các cấp, đồng thời thể thao thành tích cao đạt được những kết quả tích cực. Tỉnh đã tổ chức thành công các giải thể thao trong khuôn khổ Đại hội TDTT tỉnh năm 2025 và cử các đội tuyển tham gia thi đấu quốc gia, đạt nhiều huy chương. Đáng chú ý, đội tuyển điền kinh người khuyết tật giành 13 huy chương tại Giải Vô địch quốc gia, thể hiện sự quan tâm đến phát triển thể thao toàn diện và hòa nhập xã hội.- Thể thao thành tích cao: Tính từ đầu năm đến ngày 19/12/2025, các đội tuyển thể thao thành tích cao tỉnh Quảng Trị đã tham gia thi đấu 63 giải, đạt 308 huy chương, gồm (73 HCV, 81 HCB, 154 HCĐ). Trong đó: Có 55 giải quốc gia đạt 291 huy chương, gồm (62 HCV, 77 HCB, 152 HCĐ) và 08 giải quốc tế đạt 17 huy chương, gồm (11 HCV, 04 HCB, 02 HCĐ). Trong 55 giải quốc gia, có 11 giải xã hội hóa đạt 56 huy chương, gồm (08 HCV, 14 HCB, 34 HCĐ). Tiêu biểu vận động viên Nguyễn Huy Hoàng môn Bơi tham gia giải vô địch Châu Á xuất sắc đạt được 02 HCV và 01 HCB, tại SEA Games 33 xuất sắc đạt được 02 HCV và 01 HCĐ; vận động viên Trần Thị Thu Hằng môn Đua thuyền Rowing tại SEA Games 33 xuất sắc đạt được 01 HCV; vận động viên Trương Xuân Nguyên môn Đua thuyền truyền thống tại SEA Games 33 xuất sắc đạt được 01 HCĐ.4. Tình hình trật tự an toàn xã hội- An toàn giao thôngTrong quý IV/2025 (Tính từ 15/10/2025 đến 14/12/2025), trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 70 vụ tai nạn giao thông, làm chết 51 người, bị thương 54 người. Tất cả các vụ tai nạn giao thông đều xảy ra trên đường bộ. Cộng dồn 12 tháng năm 2025, đã xảy ra 304 vụ tai nạn giao thông, làm chết 201 người, bị thương 210 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 25,1% (-102 vụ), số người chết giảm 7,4% (-16 người), số người bị thương giảm 25,8% (-73 người). Trong các vụ tai nạn xảy ra có 301 vụ tai nạn đường bộ, làm chết 199 người, làm bị thương 210 người; 02 vụ tai nạn đường sắt làm chết 01 người, không có người bị thương; 01 vụ tai nạn đường thủy nội địa, làm chết 01 người.So với cùng kỳ năm 2024, tuy tai nạn giao thông giảm sâu nhưng tình hình vẫn còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ khó lường. Việc chấp hành pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông (TTATGT) của một số tổ chức và cá nhân có lúc còn hạn chế, mang tính đối phó, do đó vẫn tồn tại các vi phạm liên quan đến TTATGT. Qua thời gian khai thác, một số tuyến đường bị hư hỏng, xuống cấp, các khu đô thị, dân cư mới hình thành cùng với sự gia tăng của người và phương tiện, một số điểm giao cắt, nút giao thông tiềm ẩn phức tạp xuất hiện, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông. Trong thời gian tới tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm, hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông trên địa bàn, xử lý các điểm tiềm ẩn có nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông, các điểm đen giao thông; đầu tư hệ thống điện chiếu sáng trên Quốc lộ 1; trang thiết bị phục vụ công tác bảo đảm TTATGT; đầu tư nâng cấp, sửa chữa các tuyến quốc lộ và các tuyến đường tỉnh bị hư hỏng, xuống cấp nhằm đảm bảo thông suốt, an toàn, đáp ứng nhu cầu vận tải, phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân dân và phát triển kinh tế xã hội của địa phương.Hình 14. Tình hình trật tự an toàn xã hội- Tình hình cháy nổTrong quý IV trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ cháy, không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 6.835,02 triệu đồng. Cộng dồn cả năm 2025, đã xảy ra 32 vụ cháy, giảm 54,29% số vụ cháy so với cùng kỳ năm trước, không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản 7.114,96 triệu đồng.- Tình hình thiên taiTrong quý IV/2025, trên địa bàn xảy ra 04 vụ thiên tai, gây thiệt hại nặng về người và của: 17 người chết, 7 người mất tích, 18 người bị thương, 16 ngôi nhà thiệt hại trên 70%, 3.396 ngôi nhà bị thiệt hại dưới 70%, hàng trăm diện tích ha lúa và rau màu bị thiệt hại cùng với hàng ngàn con gia súc gia cầm bị chết, cuốn trôi, ước tính tổng giá trị thiệt hại hơn 1.000 tỷ. Năm 2025, chịu tác động của nhiều đợt thiên tai liên tiếp, thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, làm 24 người chết, 7 người mất tích, 24 người bị thương, thiệt hại kinh tế hơn 2.532,8 tỷ đồng.5. Tình hình nổi bật khác về xã hộia) Đời sống dân cưTrong quý IV/2025, tình hình diễn biến thời tiết bất thường và cực đoan, mưa bão và mưa lớn kéo dài đã gây ảnh hưởng đáng kể đến đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh, làm gián đoạn sinh hoạt, sản xuất và tác động đến người dân, đặc biệt tại các khu vực trũng thấp và miền núi. Tỉnh đã triển khai kịp thời các chính sách an sinh xã hội, huy động lực lượng và nguồn lực xã hội hỗ trợ người dân tái thiết nhà cửa bị hư hại, nhằm hỗ trợ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của thiên tai lên sinh kế, hỗ trợ dân cư phục hồi nhanh chóng, đồng thời thể hiện sự chủ động của địa phương trong việc bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh thiên tai phức tạp.Bên cạnh đó, đời sống của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có những chuyển biến tích cực khi các chương trình mục tiêu quốc gia thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số được thực hiện đồng bộ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt và niềm tin của người dân vào chính sách phát triển bền vững của địa phương.b) Lao động việc làmTrong năm 2025, công tác lao động, việc làm và an toàn, vệ sinh lao động trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai đồng bộ, hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Dự ước cả năm 2025, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho khoảng 35.000 lao động.c) Công tác an sinh xã hộiTrong quý IV/2025, công tác an sinh xã hội luôn được chú trọng, đặc biệt là các đối tượng người nghèo, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người cao tuổi, đối tượng yếu thế trong xã hội. Đã hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Giải quyết trợ cấp hàng tháng là 314.357 triệu đồng, giảm 0,61% (-1.916 triệu đồng) so với quý trước, nguyên nhân giảm là do quý III/2025 có hỗ trợ đột xuất ngày 27/7 và Lễ Quốc khánh 2/9. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP là 81.690 triệu đồng (trong đó 81.560 là số tiền bảo trợ hàng tháng của tháng 10/2025; 2 tháng còn lại xã chưa có kinh phí để cấp phát). Cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế là 551.282 thẻ, giảm 0,5% (-2.798 thẻ) so với quý trước, nguyên nhân giảm là do một số nhóm đối tượng được hỗ trợ thẻ tham gia BHYT theo nhóm khác nên số lượng giảm.Khái quát lại, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới biến động khó lường, có nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, các cấp, các ngành, các địa phương đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp, điều hành của Chính phủ, cùng với sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, kinh tế - xã hội năm 2025 của tỉnh Quảng Trị đã đạt được kết quả tích cực toàn diện ở các ngành, lĩnh vực. Kinh tế ổn định và tăng trưởng khá, GRDP năm 2025 ước tính tăng 8,00%. Sản xuất lâm nghiệp và thủy sản phát triển ổn định; sản xuất công nghiệp duy trì tăng trưởng, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng khá; các ngành dịch vụ tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực, đặc biệt du lịch tăng trưởng mạnh. Sức khỏe Nhân dân, an sinh xã hội được quan tâm, đời sống của Nhân dân được nâng cao; tình hình an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo, tạo sự tin tưởng, ủng hộ của Nhân dân và doanh nghiệp.Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế: Kinh tế của tỉnh không có nhiều dư địa để duy trì mức tăng trưởng cao; hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế. Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do thiên tai, sâu bệnh trồng trọt, dịch bệnh chăn nuôi diễn biến phức tạp. Thu ngân sách chưa bền vững, các khoản thu từ đất chiếm tỷ trọng lớn; cơ cấu thu ngân sách chưa đồng đều giữa các khoản thu. Quy mô sản xuất của hầu hết các doanh nghiệp còn nhỏ; sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp còn chậm. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chưa đạt yêu cầu; nhiều vướng mắc về đầu tư, đất đai, môi trường vẫn chưa được tháo gỡ triệt để; cơ sở hạ tầng và nhân lực phục vụ du lịch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong các lĩnh vực đời sống, xã hội còn hạn chế,…Dự báo trong quý IV/2025, mặc dù kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục xu hướng phát triển tích cực, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là áp lực từ tình hình thế giới và trong nước ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh. Đây cũng là mùa thấp điểm du lịch của tỉnh, mùa mưa, bão trong năm với tác động khó lường của thiên tai, biến đổi khí hậu,… Do đó, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương theo dõi sát diễn biến tình hình, chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, linh hoạt, đồng bộ các giải pháp, nhiệm vụ chủ yếu như sau:- Tập trung, phấn đấu hoàn thành cao nhất các chỉ tiêu kế hoạch năm 2025; tiếp tục triển khai quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.- Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện đồng bộ giải pháp, biện pháp quản lý thu, chống thất thu ngân sách trên tất cả các lĩnh vực, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời khoản thu phát sinh theo quy định.- Các xã, phường, đặc khu tiếp tục rà soát, chủ động tháo gỡ vướng mắc, khó khăn để bảo đảm hoạt động thông suốt, hiệu quả; chủ động, kịp thời báo cáo các sở, ngành liên quan hỗ trợ, hướng dẫn khắc phục, đặc biệt là công tác về tài chính và tổ chức bộ máy, cán bộ tại địa phương; tiếp tục sắp xếp, bố trí cán bộ phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết công việc; phân công phân nhiệm cụ thể, khoa học, hiệu quả, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin, khoa học công nghệ vào quản lý, điều hành, góp phần nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo điều hành; chủ động rà soát kịch bản tăng trưởng, điều chỉnh nhiệm vụ phù hợp thực tiễn, tập trung rà soát các chỉ tiêu đạt thấp, khó đạt và những nhiệm vụ khó, trọng tâm, trọng điểm để giải quyết kịp thời, tránh giàn trải dẫn đến không hiệu quả.- Đẩy mạnh cải cách hành chính và môi trường đầu tư thông qua ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong thủ tục hành chính, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch và thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, đặc biệt là thu hút vốn FDI.- Quyết liệt đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; rà soát, xử lý dứt điểm vướng mắc về giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ các dự án, nhất là đối với các dự án lớn. Tạo bứt phá, tháo gỡ điểm nghẽn về cơ sở hạ tầng giao thông, qua đó tạo động lực cho hoạt động xây dựng tăng trưởng và đóng góp vào kinh tế tỉnh.- Chỉ đạo triển khai có hiệu quả sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026. Chỉ đạo, huy động các nguồn lực để tổ chức xử lý dứt điểm các ổ dịch tả lợn châu Phi, không để phát sinh ổ dịch mới; chủ động triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ người chăn nuôi bị thiệt hại do dịch bệnh theo đúng quy định của pháp luật. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đặc biệt là hoạt động vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm nhằm phát hiện sớm dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi để kịp thời cảnh báo, đề xuất các biện pháp phòng dịch có hiệu quả. Tập trung phòng chống sâu bệnh trên cây trồng và dịch bệnh chăn nuôi, chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao.- Chú trọng quản lý tàu thuyền hoạt động đánh bắt vùng biển xa và hoạt động nuôi trồng thủy sản trong mùa mưa bão; kiểm soát chặt chẽ đội tàu, quyết liệt xử lý vi phạm và đẩy mạnh số hóa dữ liệu nghề cá; đẩy mạnh thực hiện chống khai thác IUU. Đẩy mạnh tiến độ thực hiện và hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2025.- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hóa, số hóa, dựa trên công nghiệp, dịch vụ, đột phá khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy mạnh mẽ các khu kinh tế, cửa khẩu, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao; nông nghiệp sạch, sinh thái; dịch vụ, du lịch chất lượng cao gắn với lịch sử, văn hóa đặc trưng, đẩy mạnh phát triển du lịch tâm linh.- Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn: Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả và bền vững; chú trọng phối hợp các đơn vị liên quan tăng cường thu hút, kêu gọi các nhà đầu tư có tiềm lực, uy tín triển khai các dự án lớn về du lịch xứng tầm với tiềm năng, thế mạnh du lịch của tỉnh để phát triển bứt phá, tiếp tục khẳng định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác.- Các địa phương chủ động thực hiện đồng bộ giải pháp phục hồi sản xuất nông nghiệp, khắc phục hậu quả mưa, bão, lũ, lụt, nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất của Nhân dân; tiếp tục chủ động phòng, chống thiên tai mùa mưa lũ; tập trung giải phóng mặt bằng các dự án trên địa bàn, các dự án đi qua địa phương, đặc biệt là các dự án ảnh hưởng lớn đến công tác giải ngân vốn đầu tư công, dự án trọng điểm của tỉnh, của quốc gia; huy động toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc, lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt để tháo gỡ triệt để, dứt điểm khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện để chủ đầu tư triển khai các dự án đúng tiến độ; kiên quyết không để người dân lấn chiếm đất đai, tạo dựng tài sản bất hợp pháp trong phạm vi dự án.- Chuẩn bị sẵn sàng các phương án phòng, chống thiên tai trong mùa mưa lũ, tăng cường phương án “4 tại chỗ” ứng phó với các hình thái thời tiết cực đoan, nhất là ứng phó với lũ quét, sạt lở đất vùng cao, vùng địa chất không ổn định. Khẩn trương thực hiện kế hoạch duy tu, sửa chữa đảm bảo an toàn hồ chứa, hệ thống công trình thủy lợi, đê điều; các công trình giao thông trước mùa mưa bão, kịp thời phát hiện sự cố để xử lý. Duy trì nghiêm công tác trực ban phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn, cảnh báo kịp thời để chủ động phòng, chống và hạn chế thấp nhất các trường hợp mất an toàn xảy ra do thiên tai, bảo đảm cao nhất tính mạng, tài sản của Nhân dân. Đảm bảo hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa an toàn, thông suốt.- Tiếp tục củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh Nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân. Tăng cường công tác nắm tình hình, kiên quyết trấn áp, triệt phá các băng, ổ nhóm hoạt động tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, tội phạm hình sự nghiêm trọng; tội phạm tín dụng đen, tội phạm công nghệ cao,... Triển khai quyết liệt các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; tăng cường cảnh báo tại nơi giao cắt với đường sắt trên các tuyến đường địa phương quản lý, xử lý nghiêm các vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa. Chủ động lực lượng, phương tiện sẵn sàng cứu nạn, cứu hộ, hỗ trợ Nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai./.[1] Nguồn: Báo cáo số 673/BC-CNTY-TY ngày 19/12/2025 của Chi cục Chăn nuôi và Thú y.
BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 11 VÀ 11 THÁNG NĂM 2025
- 20/05/2026 09:25
Tháng 11 năm 2025, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, trong nước, thiên tai, bão, lũ lụt xảy ra dồn dập, khốc liệt trên phạm vi rộng, gây thiệt hại nặng nề cả về người và tài sản, ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân. Tỉnh Quảng Trị diễn ra nhiều đợt mưa lớn và ngập lụt, nhưng phạm vi ảnh hưởng chủ yếu tập trung tại một số địa bàn khu vực phía Nam tỉnh (khu vực tỉnh Quảng Trị cũ) và không lan rộng trên toàn tỉnh. Hoạt động sản xuất công nghiệp, thương mại - dịch vụ và đầu tư công tại các trung tâm kinh tế quan trọng vẫn duy trì ổn định; các doanh nghiệp nhanh chóng khôi phục sản xuất sau thiên tai; chuỗi cung ứng, lưu thông hàng hóa không bị gián đoạn kéo dài, bên cạnh đó UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp, điều hành của Chính phủ về ưu tiên, thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng; khắc phục khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, vận hội mới, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, quyết tâm nỗ lực, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2025. Kết quả đạt được trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong tháng 11 và 11 tháng năm 2025 như sau:I. KINH TẾ1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnTrong tháng 11/2025, sản xuất trồng trọt tập trung chủ yếu vào công tác chuẩn bị cho gieo trồng vụ Đông Xuân 2025 - 2026 như khử trùng sâu bệnh, làm đất, chọn giống, vật tư phân bón, tu sửa hệ thống công trình thủy lợi chủ động chuẩn bị nguồn nước tưới tiêu. Chăn nuôi tập trung chăm sóc đàn gia súc, gia cầm chuẩn bị nguồn thực phẩm cho dịp tết Nguyên đán. Sản xuất lâm nghiệp tập trung trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng. Sản xuất thuỷ sản tương đối ổn định.a) Nông nghiệp- Trồng trọtNhìn chung, tình hình sản xuất cây hàng năm 2025 gặp nhiều bất lợi, vụ Đông Xuân chịu ảnh hưởng của không khí lạnh và mưa rét kéo dài; vụ Hè Thu ảnh hưởng của đợt mưa lớn cuối tháng 5, lúa Hè Thu mới gieo bị ngập úng. Tuy nhiên, nhờ sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, các sở, ban, ngành và sự hỗ trợ kịp thời về giống, điều kiện hạ tầng thủy lợi được cải thiện, sản xuất vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu vẫn triển khai theo đúng kế hoạch đề ra và đạt được một số kết quả tích cực. Tiếp tục triển khai hợp tác, liên kết với doanh nghiệp, nhân rộng mô hình trồng lúa theo hướng hữu cơ, đưa giống lúa có năng suất và chất lượng cao vào sản xuất.Diện tích gieo trồng cây hàng năm 2025 đạt 164.681,5 ha, giảm 0,8% so với năm trước. Trong đó: Diện tích vụ Đông Xuân 85.472,3 ha, giảm 0,7%; vụ Hè Thu 77.652,4 ha, giảm 0,8%; vụ Mùa 1.556,8 ha, giảm 7,0% so với năm trước. Nguyên nhân, diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm do thu hồi đất để triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng, tuyến đường cao tốc; một phần do vụ Hè Thu gặp mưa lớn đầu vụ bị ngập úng không gieo lại, một số diện tích lúa tái sinh bị úng không để lại tái sinh được.Diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Diện tích cây lúa cả năm thực hiện 103.539,7 ha, giảm 0,4% so với năm trước (chia theo vụ sản xuất: Vụ Đông Xuân 55.500,8 ha, tăng 0,2%; vụ Hè Thu 46.482,1 ha, giảm 0,8%; vụ Mùa 1.556,8 ha, giảm 7,0%); cây ngô và cây lương thực có hạt khác 8.607,1 ha, giảm 3,1%; cây lấy củ có chất bột 25.607,9 ha, giảm 0,3%; cây thuốc lá, thuốc lào 4,4 ha, giảm 4,3%; cây có hạt chứa dầu 6.352,7 ha, giảm 4,0%; cây rau, đậu các loại và hoa 14.563,7 ha, giảm 1,7%; cây hàng năm khác 5.777,9 ha, giảm 0,8% so với năm trước.Năng suất gieo trồng một số cây trồng cả năm: Cây lúa cả năm đạt 52,90 tạ/ha, giảm 7,5%; ngô đạt 49,80 tạ/ha, tăng 10,1%; khoai lang đạt 80,40 tạ/ha, tăng 3,1%; sắn đạt 166,16 tạ/ha, tăng 1,6%; lạc đạt 22,91 tạ/ha, tăng 6,0%; rau các loại đạt 108,32 tạ/ha, tăng 0,9%; đậu các loại đạt 10,84 tạ/ha, tăng 5,5% so với năm trước.Sản lượng lương thực cả năm 2025 đạt 590.386 tấn, giảm 6,9% so với năm trước. Sản lượng lương thực chia ra: Thóc 547.683,5 tấn, giảm 7,8%; lương thực khác 42.702,5 tấn, tăng 6,5% so với năm trước. Sản lượng một số cây trồng khác: Khoai lang đạt 30.766,4 tấn, giảm 2,5%; sắn đạt 335.536,0 tấn, tăng 2,1%; lạc đạt 13.399,5 tấn, tăng 1,9%; rau các loại đạt 126.145,8 tấn, giảm 0,1%; đậu các loại đạt 2.926,1 tấn, tăng 1,1% so với năm trước.* Sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026Gieo trồng vụ Đông Xuân 2025 - 2026 trong điều kiện mưa nhiều đã ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng các loại cây, tiến độ thực hiện đến ngày 30/11/2025 ước đạt 1.919,8 ha, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước.Cụ thể một số cây thực hiện như sau: Cây ngô 161,5 ha, giảm 2,7%; cây khoai lang 408,7 ha, giảm 3,9%; cây lạc 74,2 ha, giảm 4,6%; cây rau các loại 1.089,4 ha, giảm 2,2%; cây cỏ voi 186,0 ha, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm trước.Hình 1. Tiến độ gieo trồng một số cây hàng năm vụ Đông Xuân 2025 - 2026- Chăn nuôiTrong tháng 11, chăn nuôi trâu giảm do diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp, trong khi chăn nuôi bò vẫn duy trì mức tăng ổn định; chăn nuôi lợn chịu ảnh hưởng bởi dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, người chăn nuôi đã thực hiện tái đàn thận trọng kết hợp với chuyển hướng sinh học, phục hồi đàn lợn sau dịch bằng cách áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp an toàn sinh học để phòng ngừa tái phát dịch bệnh; chăn nuôi gia cầm phát triển tốt nhờ nhu cầu tiêu thụ tăng cao. Công tác tiêm phòng, phòng chống dịch bệnh tiếp tục được triển khai hiệu quả, góp phần hạn chế rủi ro và bảo đảm nguồn cung thực phẩm.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 11 ước đạt 11.506,7 tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 190,3 tấn, tăng 0,3%; thịt bò 1.165 tấn, tăng 8,3%; thịt lợn 6.344 tấn, giảm 2,6%; thịt gia cầm 3.807,4 tấn, tăng 6,4% (trong đó: Thịt gà 2.813,2 tấn, tăng 8,2%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt bò và thịt gia cầm tăng chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu dùng cao. Sản lượng trứng gia cầm 15.671,4 ngàn quả, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng lũy kế 11 tháng ước đạt 139.316,1 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 2.344,7 tấn, giảm 1,7%; thịt bò 11.994,7 tấn, tăng 7,2%; thịt lợn 80.123,6 tấn, tăng 0,2%; thịt gia cầm 44.853,1 tấn, tăng 4,9% (trong đó: Thịt gà 33.763,4 tấn, tăng 6,0%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm 181.881,7 ngàn quả, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước.Hình 2. Sản lượng thịt hơi xuất chuồngTình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm (Tính đến ngày 18/11/2025):- Dịch tả lợn châu Phi: Dịch bệnh đã xảy ra tại 65/78 xã, phường, với 12.426 hộ có lợn mắc bệnh, chết; tổng số 104.936 con lợn bị tiêu hủy với tổng trọng lượng tiêu hủy 6.597,3 tấn. Số xã, phường hết dịch (đã qua 21 ngày): 41 xã, phường/65 xã xảy ra dịch, chiếm 63,08 %, trong đó: 21 xã, phường đã công bố hết dịch: Dân Hóa, Bắc Gianh, Tuyên Sơn, Tuyên Lâm, Tân Thành, Lao Bảo, Ba Lòng, Ninh Châu, Hướng Phùng, Đồng Lê, Kim Phú, Đông Trạch, Minh Hoá, Tuyên Bình, Đồng Thuận, Lệ Ninh, Phong Nha, Tân Mỹ, Đồng Hới, Quảng Trị, Triệu Cơ. Có 20 xã, phường đã qua 21 ngày: Nam Trạch, Lệ Thuỷ, Sen Ngư, Ba Đồn, Cồn Tiên, Tuyên Hoá, Kim Ngân, Trường Phú, Hoàn Lão, Nam Gianh, Nam Cửa Việt, Bố Trạch, Bắc Trạch, Bến Quan, Mỹ Thủy, Cam Lộ, Diên Sanh, Tân Gianh, Hải Lăng và Nam Đông Hà.Số xã, phường có dịch chưa qua 21 ngày là 24, trong đó: 03 xã qua 20 ngày (Vĩnh Hoàng, Gio Linh, Vĩnh Định); 08 xã qua 19 ngày (Vĩnh Thủy, Vĩnh Linh, Cửa Tùng, Bến Hải, Ái Tử, Triệu Phong, Nam Hải Lăng, Triệu Bình) ; 02 xã qua 18 ngày (Kim Điền, Trường Ninh); 01 phường qua 17 ngày (Đông Hà).- Bệnh lở mồm long móng: Dịch bệnh đã được khống chế, đã qua 18 ngày không phát sinh gia súc bị bệnh. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh không còn gia súc mắc bệnh lở mồm long móng [1].b) Lâm nghiệpTrong tháng 11, công tác tuyên truyền được tiếp tục đẩy mạnh nhằm nâng cao nhận thức trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, động viên, khuyến khích Nhân dân, cộng đồng dân cư tích cực tham gia trồng rừng và trồng cây xanh. Nhìn chung 11 tháng qua tình hình sản xuất lâm nghiệp phát triển ổn định, tập trung công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng, chăm sóc và khai thác gỗ, bên cạnh đó tăng cường quản lý chất lượng giống cây trồng.Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 11 ước đạt 3.720,0 ha, giảm 3,3%; luỹ kế 11 tháng ước đạt 21.397,7 ha, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, các địa phương, đơn vị và hộ dân trong tỉnh tranh thủ thời tiết thuận lợi đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, đảm bảo đúng kế hoạch đề ra.Chăm sóc rừng trồng: Người dân, chủ rừng đang tiến hành chăm sóc rừng đúng lịch thời vụ, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt. Công tác tuyên truyền được tiếp tục triển khai nhằm vận động người dân bảo vệ tốt diện tích đất có rừng.Sản lượng gỗ khai thác tháng 11 ước đạt 132.561,0 m3, tăng 2,2%; tính chung 11 tháng ước đạt 2.058.624,0 m3, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng chủ yếu là rừng sản xuất, do một số diện tích rừng trồng đã đến kỳ khai thác; nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu phục vụ sản xuất, xây dựng,… tăng cao.Từ đầu tháng 11 đến nay không xảy ra cháy rừng. Luỹ kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 5 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 9,5 ha, 4 vụ vi phạm rừng và diện tích rừng bị phá 0,8 ha.Tình hình chăm sóc, nuôi dưỡng rừng trên địa bàn tỉnh luôn được chú trọng và thực hiện thường xuyên. Công tác tuyên truyền được sử dụng bằng nhiều hình thức nhằm phổ biến pháp luật một cách phong phú, đa dạng, tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của quần chúng nhân dân về tầm quan trọng của việc trồng rừng cũng như công tác bảo vệ rừng, phát triển vốn rừng. Công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp, sử dụng các biện pháp bảo vệ rừng, chăm sóc, giải quyết các tranh chấp về đất rừng được chính quyền địa phương và các ngành chức năng đã thực hiện tốt góp phần ổn định sản xuất, tạo điều kiện cho việc trồng rừng, kinh tế rừng ngày càng phát triển.c) Thủy sảnTháng 11 năm 2025, tình hình sản xuất thủy sản trên địa bàn đạt mức tăng trưởng ổn định, song vẫn đối mặt không ít khó khăn và thách thức. Nổi bật là điều kiện thời tiết biển nhìn chung tương đối thuận lợi, ngư dân tranh thủ vươn khơi; nhiều tàu thuyền có công suất lớn được sửa chữa, cải hoán nên hiệu quả khai thác được cải thiện. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản duy trì ở mức cao, tạo động lực cho sản xuất. Tuy nhiên, hoạt động nuôi trồng bị ảnh hưởng đáng kể bởi mưa lớn, áp thấp nhiệt đới khiến nhiều diện tích ao đầm bị hư hại; thức ăn đầu vào tiếp tục tăng giá; một số loại thủy sản tiếp tục chịu áp lực về dịch bệnh. Bên cạnh đó, việc kiểm soát tàu cá khai thác xa bờ theo quy định chống khai thác IUU được siết chặt cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chủ tàu và ngư dân.Ước tính sản lượng thủy sản chung tháng 11 đạt 8.829,0 tấn, giảm nhẹ so với tháng 10 nhưng vẫn tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 11 tháng, tổng sản lượng đạt 132.014,5 tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm cá chiếm tỷ trọng lớn nhất với 105.206,3 tấn, tăng 2,0%; nhóm thủy sản khác đạt 17.352,0 tấn, tăng 0,7%; riêng nhóm tôm đạt 9.456,2 tấn, giảm 1,2% do ảnh hưởng của thời tiết bất lợi đối với các vùng nuôi.Hình 3. Sản lượng thủy sản- Khai thácƯớc tính sản lượng khai thác tháng 11 đạt 7.674,6 tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 11 tháng, sản lượng khai thác đạt 111.061,1 tấn, tăng 2,1% và tiếp tục là khu vực đóng góp lớn nhất cho tổng sản lượng (trong đó: khai thác biển đạt 105.337,1 tấn, tăng 2,9%), cho thấy xu hướng chuyển dịch mạnh sang khai thác xa bờ mang lại hiệu quả tốt. Trong cơ cấu sản lượng, cá khai thác đạt 92.268,3 tấn, tăng 2,4%; tôm khai thác đạt 2.093,5 tấn, tăng 0,8%; thủy sản khác đạt 16.699,3 tấn, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh sự linh hoạt của ngư dân trong tranh thủ thời tiết thuận lợi và hiệu quả của công tác kiểm tra, kiểm soát an toàn tàu cá trong mùa mưa, bão.- Nuôi trồngƯớc tính sản lượng nuôi trồng tháng 11 đạt 1.154,4 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lũy kế 11 tháng chỉ đạt 20.953,4 tấn, giảm 1,0%, cho thấy những tác động rõ rệt của thời tiết và môi trường nước đến khu vực nuôi. Trong đó, sản lượng cá nuôi đạt 12.938,0 tấn, giảm 0,4%; tôm đạt 7.362,7 tấn, giảm 1,7%; thủy sản khác đạt 652,7 tấn, giảm 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Các cơ sở nuôi đang tích cực gia cố ao đầm, xử lý môi trường nước và thu hoạch những diện tích đạt kích cỡ thương phẩm nhằm hạn chế rủi ro.2. Công nghiệpTrong tháng 11 năm 2025, tình hình sản xuất công nghiệp của tỉnh Quảng Trị tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, dựa trên nền tảng các ngành chủ lực như công nghiệp chế biến, chế tạo; sản xuất và phân phối điện. Sản xuất công nghiệp có sự phục hồi tích cực so với cùng kỳ năm trước, góp phần quan trọng vào hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm. Các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, đồng thời tỉnh tập trung tháo gỡ vướng mắc về hạ tầng và thủ tục đầu tư để tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất.Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 11 ước tính tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 1,4%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,4%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính 11 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 10,9%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,5%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước.Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệpTrong ngành công nghiệp cấp 2, một số ngành có chỉ số sản xuất 11 tháng năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Khai khoáng khác tăng 16,1%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 14,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 13,3%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,4%; sản xuất sản phẩm từ phi kim loại đúc sẵn tăng 11,1%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 9,5%; in, sao chép bản in các loại tăng 8,7%; sản xuất trang phục tăng 8,4%. Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất da và các sản phẩm liên quan giảm 0,6%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 5,9%; khai thác quặng kim loại giảm 44,2% (ngành khai thác quặng kim loại giảm mạnh chủ yếu do một số mỏ khai thác thời gian dài bắt đầu cạn kiệt, hàm lượng kim loại trong quặng thấp, khiến chi phí khai thác tăng cao không còn hiệu quả kinh tế nên doanh nghiệp tạm dừng khai thác. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp tồn kho cao, chưa tiêu thụ hết nên giảm sản lượng khai thác).Sản lượng sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 11 tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước như: đá xây dựng đạt 2.482.449 m3, tăng 9,5%; cao lanh đạt 108.077 tấn, tăng 52,7%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 34.194 tấn, tăng 3,0%; áo sơ mi đạt 12.456 nghìn cái, tăng 13,2%; dăm gỗ đạt 832.213 tấn, tăng 14,8%; ván ép từ gỗ đạt 277.422 m3, tăng 13,5%; viên gỗ đạt 42.141 tấn, tăng 74,1%; Clinker thành phẩm đạt 2.690.842 tấn, tăng 10,6%; thủy điện đạt 709 triệu kWh, tăng 10,8%;... Một số sản phẩm sản xuất 11 tháng năm 2025 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Quặng ilmenite đạt 11.479 tấn, giảm 43,3%; Quặng titan đạt 22.482 tấn, giảm 45,8%; tinh bột sắn đạt 92.482 tấn, giảm 0,8%; nước khoáng có ga đạt 1.525 nghìn lít, giảm 12,1%; cao su tổng hợp đạt 1.070 tấn, giảm 31,4%; điện mặt trời đạt 263 triệu kWh, giảm 7,0%./.3. Vốn đầu tưTình hình thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo và triển khai đồng bộ. Điều này góp phần thúc đẩy tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Nhiều công trình, dự án trọng điểm được các chủ đầu tư và đơn vị thi công tập trung đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất kế hoạch được giao, qua đó làm cho vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể:Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 11 năm 2025 ước đạt 1.155,2 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 39,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.111,6 tỷ đồng, tăng 45,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 43,6 tỷ đồng, giảm 32,5% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 11 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 8.868,2 tỷ đồng, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 8.469,8 tỷ đồng, tăng 38,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 398,4 tỷ đồng, giảm 29,7% so với cùng kỳ năm trước.Một số dự án thực hiện trên địa bàn tỉnh: Dự án thành phần 1 - Đường ven biển thuộc dự án Đường ven biển và cầu Nhật Lệ 3; Đường và cầu vượt đường sắt trung tâm thành phố Đồng Hới; Dự án thành phần 1- Đầu tư xây dựng QL12A đoạn tránh thị xã Ba Đồn; Dự án Đường và kè nối từ cầu Nhật Lệ 2 đến Khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão và hậu cần nghề cá (phía Nam cầu Nhật Lệ 3), thành phố Đồng Hới; Dự án khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Bắc sông Gianh; Dự án đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật Khu kinh tế Hòn La; Dự án nâng cấp tuyến Đường tỉnh 562; Dự án tuyến đường Phú Hải - Lương Ninh; Dự án đường tránh phía Đông thành phố Đông Hà (đoạn từ nút giao đường Nguyễn Hoàng đến Nam cầu sông Hiếu); Dự án đường nối khu công nghiệp Đông Nam Quảng Trị đến cảng Cửa Việt (Đường trung tâm trục dọc khu kinh tế Đông Nam tỉnh Quảng Trị); Dự án san nền và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu tại Khu vực Trung tâm Cửa khẩu quốc tế La Lay (Giai đoạn 2); Dự án kè chống xói lở khẩn cấp bờ biển đoạn từ xã Gio Hải đến thị trấn Cửa Việt; Dự án đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ y tế tuyến cơ sở dự án thành phần tại tỉnh Quảng Trị; Dự án tuyến đường bộ ven biển đoạn tuyến qua khu vực cầu Cửa Tùng và Cửa Việt; Dự án tuyến đường kết nối cảng hàng không Quảng Trị; Dự án đường nối đường Hồ Chí Minh nhánh Đông với đường Hồ Chí Minh nhánh Tây.4. Thương mại, dịch vụa) Tổng mức bán lẻ hàng hoáTháng 11, nhu cầu tiêu dùng tăng lên đồng thời thị trường hàng hoá dồi dào sôi động hơn. Các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại và cửa hàng tiện ích tiếp tục được mở rộng, tạo thêm nguồn cung hàng hóa đa dạng và nâng cao chất lượng dịch vụ bán lẻ. Người tiêu dùng có xu hướng ưu tiên sản phẩm trong nước, rõ nét ở nhóm hàng tiêu dùng nhanh và nông sản thực phẩm. Các chương trình khuyến mãi tập trung và hội chợ kích cầu được triển khai rộng rãi, góp phần hỗ trợ tiêu thụ hàng hóa và duy trì tăng trưởng của thị trường. Công tác quản lý thị trường được tăng cường, góp phần kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng và hiện tượng đầu cơ tăng giá. Vì vậy, doanh thu tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 11/2025 tăng nhẹ so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ.Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 11/2025 ước đạt 7.406,5 tỷ đồng, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 15,0% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu các nhóm hàng hóa tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ, cụ thể: Nhóm lương thực, thực phẩm ước đạt 2.751,2 tỷ đồng, tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ; nhóm may mặc ước đạt 807,9 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 696,1 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước đạt 479,6 tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 9,1% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước đạt 317,7 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước đạt 724,8 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 16,7% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác ước đạt 28,1 tỷ đồng, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước đạt 152,1 tỷ đồng, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 16,0% so với cùng kỳ.Bên cạnh đó, nhóm hàng hóa có doanh thu giảm so với tháng trước đó là: Nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục ước đạt 78,7 tỷ đồng, giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.089,3 tỷ đồng, giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 21,9% so với cùng kỳ; nhóm đá quý, kim loại quý ước đạt 92,2 tỷ đồng, giảm 2,0% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ; nhóm hàng hóa khác ước đạt 188,9 tỷ đồng, giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ.Hình 5. Tổng mức bán lẻ hàng hóaTính chung 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tính đạt 80.933,7 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm ngành đều tăng cao so với cùng kỳ. Chiếm tỷ trọng lớn và tăng cao là nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 13,3% so với cùng kỳ, đóng góp tăng cao nhất 5,0 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa.Ước tính cả năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 88.312,7 tỷ đồng, tăng 12,5% so với năm 2024, trong đó các nhóm tăng cao là nhóm lương thực, thực phẩm tăng 13,5%, đóng góp tăng 5,1 điểm phần trăm; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 10,6%, đóng góp tăng 2,1 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa.b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hànhTháng 11/2025, thời tiết chuyển mùa mưa lụt thường xuyên nên hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch giảm so với tháng trước.- Dịch vụ lưu trú:Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 11/2025 ước đạt 90,0 tỷ đồng, giảm 5,4% so với tháng trước và tăng 18,0% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng đạt 1.108,7 tỷ đồng, tăng 17,2% so với cùng kỳ.Số lượt khách lưu trú tháng 11/2025 ước đạt 299.292 lượt khách, giảm 4,3% so với tháng trước và tăng 17,4% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng đạt 3.425.504 lượt khách, tăng 17,1% so với cùng kỳ.Ngày khách tháng 11/2025 ước đạt 349.069 ngày khách, giảm 5,5% so với tháng trước và tăng 16,9% so với cùng kỳ; tình chung 11 tháng đạt 3.725.953 ngày khách, tăng 17,1% so với cùng kỳ.- Dịch vụ ăn uống:Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 11/2025 ước đạt 869,6 tỷ đồng, giảm 4,7% so với tháng trước và tăng 20,9% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng đạt 9.982,4 tỷ đồng, tăng 16,4% so với cùng kỳ.Hình 6. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống- Du lịch lữ hành:Doanh thu hoạt động lữ hành tháng 11/2025 ước đạt 30,7 tỷ đồng, giảm 6,9% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng đạt 576,0 tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ.Số lượt khách du lịch lữ hành tháng 11/2025 ước đạt 62.336 lượt khách, giảm 6,8% so với tháng trước và tăng 24,2% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng đạt 944.889 lượt khách, tăng 21,4% so với cùng kỳ.Số ngày khách du lịch lữ hành tháng 11/2025 ước đạt 81.339 ngày khách, giảm 6,8% so với tháng trước và tăng 24,7% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng đạt 1.229.576 ngày khách, tăng 20,4% so với cùng kỳ.Hình 7. Du lịch lữ hànhc) Các ngành kinh doanh dịch vụCác hoạt động du lịch giảm kéo theo nhu cầu sử dụng các dịch vụ vui chơi, giải trí, lao động thời vụ,… giảm; do đó, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ tháng 11/2025 giảm so với tháng trước.Ước tính doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 11/2025 đạt 472,7 tỷ đồng, giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 18,8% so với cùng kỳ. Cụ thể các nhóm ngành dịch vụ như sau: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 88,7 tỷ đồng, tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 92,3 tỷ đồng, giảm 3,1% so với tháng trước và tăng 25,0% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 15,9 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước, tăng 11,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 32,9 tỷ đồng, tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước đạt 102,0 tỷ đồng, giảm 1,4% so với tháng trước, tăng 9,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước đạt 42,5 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 39,7% so với cùng kỳ, dịch vụ cá nhân khác ước đạt 98,4 tỷ đồng, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 17,6% so với cùng kỳ.Tính chung 11 tháng, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ đạt 4.918,9 tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ. Trong đó, các nhóm dịch vụ tăng cao, cụ thể: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 19,5% đóng góp tăng 2,8 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 21,2% đóng góp tăng 2,9 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 3,4% đóng góp tăng 3,2 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ khác tăng 15,0% đóng góp tăng 3,1 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của nhóm các ngành kinh doanh dịch vụ.d) Vận tảiHoạt động kinh doanh vận tải, kho bãi và bưu chính, chuyển phát trên địa bàn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tháng 11 cũng là thời điểm cuối năm nên nhu cầu vận chuyển hàng hóa, dịch vụ kho bãi tăng, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh vận tải đã kịp thời triển khai nhiều giải pháp quản lý, tập trung nguồn lực, phương tiện nhằm mở rộng thị trường khách hàng, đồng thời tận dụng thời tiết ổn định để nâng cao hiệu quả khai thác vận tải trên các tuyến. Nhờ vậy, tổng doanh thu hoạt động vận tải tháng 11 tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ.Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 11/2025 ước tính đạt 794,0 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 13,7% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát đạt 8.606,5 tỷ đồng, tăng 13,0% so với cùng kỳ. Trong đó: Vận tải hành khách đạt 1.313,2 tỷ đồng, tăng 12,4%; vận tải hàng hóa đạt 6.514,9 tỷ đồng, tăng 13,5%; kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải, bưu chính chuyển phát đạt 778,4 tỷ đồng, tăng 9,5% so với năm trước.Hình 8. Doanh thu hoạt động vận tải* Vận tải hành kháchƯớc tính tháng 11/2025, số lượt hành khách vận chuyển đạt 4,8 triệu hành khách, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước đạt 216,0 triệu hành khách.km, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng, số lượt hành khách vận chuyển đạt 50,8 triệu hành khách, tăng 12,5% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển đạt 2.296,8 triệu hành khách.km, tăng 12,5% so với cùng kỳ.Ước tính cả năm 2025, doanh thu vận tải hành khách đạt 1.437,6 tỷ đồng, tăng 12,2% so với năm trước; số lượt hành khách vận chuyển đạt 55,6 triệu hành khách, tăng 12,2%; số lượt hành khách luân chuyển đạt 2.514,3 triệu hành khách.km, tăng 12,2% so với năm trước.* Vận tải hàng hóaƯớc tính tháng 11/2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 5,1 triệu tấn, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 13,8% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước đạt 312,2 triệu tấn.km, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ. Tính chung 11 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 55,4 triệu tấn, tăng 13,5%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 3.518,6 triệu tấn.km, tăng 17,3% so với cùng kỳ.Ước tính cả năm 2025, doanh thu vận tải hàng hóa đạt 7.118,4 tỷ đồng, tăng 13,7% so với năm 2024; khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 60,5 triệu tấn, tăng 13,7%; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 3.828,3 triệu tấn.km, tăng 18,0% so với năm trước.e) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Trong tháng 11, thời tiết tỉnh Quảng Trị tiếp tục chịu ảnh hưởng của các đợt mưa lớn, một số khu vực bị lũ, lụt cục bộ dẫn đến hoa màu hư hại, do đó giá các mặt hàng rau, củ quả tăng mạnh, một số mặt hàng lương thực, thực phẩm tươi sống giá tăng do nguồn cung giảm trong những ngày mưa. Bên cạnh đó, dịch tả lợn Châu Phi diễn biến phức tạp nên người tiêu dùng e ngại và hạn chế dùng thịt lợn, dẫn đến giá thịt lợn giảm. Ngoài ra một số mặt hàng thiết yếu tăng như: giá xăng, dầu diezel, dầu hỏa,… Các yếu tố trên đã tác động đến Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Quảng Trị tháng 11 năm 2025 tăng 0,13% so với tháng trước (Trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,21%, khu vực nông thôn tăng 0,07%); tăng 1,09% so với tháng 12 năm trước; tăng 2,34% so với cùng kỳ; tính chung 11 tháng năm 2025 CPI tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước.Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 5 nhóm hàng tăng giá, 4 nhóm giảm giá và 2 nhóm hàng ổn định. Có 5 nhóm hàng hóa tăng đó là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,92%, do tháng này mưa lũ nhiều, chi phí đầu vào tăng nên giá các mặt hàng thiết yếu tăng, cụ thể như rau, củ quả, cá, tôm hải sản giá tăng cao; Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,04%, tăng do nhóm rượu bia tăng 0,09%; Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,16%; Nhóm giao thông tăng 0,89%, chủ yếu do giá xăng dầu tăng, cụ thể: Giá xăng tăng 2,55%, giá dầu diezel tăng 5,78%; Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02%. Có 4 nhóm hàng giảm giá đó là: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,65%, nguyên nhân giảm do: chỉ số giá tiêu dùng mặt hàng điện sinh hoạt [2] giảm 2,39% do trong tháng nhu cầu tiêu dùng giảm so với tháng trước; Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,06%; Nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,13%. Có 2 nhóm hàng hóa ổn định đó là nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; nhóm giáo dục.Hình 9. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 11/2025 so với tháng trước- Chỉ số giá vàng 99,99%Giá vàng bình quân tháng 11 là 14,217 triệu đồng/chỉ vàng 9999, giảm 0,36% so với tháng trước, tăng 80,72% so với kỳ gốc 2024, tăng 62,32% so với cùng kỳ, bình quân 11 tháng tăng 44,18% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ (USD)Giá đô la Mỹ bình quân tháng 11 là 26.110 VNĐ/USD, tăng 0,10% so với tháng trước, tăng 5,31% so với kỳ gốc 2024, tăng 4,44% so với cùng kỳ, bình quân 11 tháng tăng 4,16% so với cùng kỳ.5. Thu, chi ngân sách nhà nước, tín dụnga) Thu, chi ngân sách Nhà nướcUBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt triển khai các nhiệm vụ tài chính ngân sách năm 2025, yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện đồng bộ giải pháp, biện pháp quản lý thu, chống thất thu ngân sách trên tất cả các lĩnh vực, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời khoản thu phát sinh theo quy định. Tổng thu ngân sách nhà nước 11 tháng năm 2025 trên địa bàn ước tính đạt 12.703,7 tỷ đồng, vượt 13,9% dự toán Trung ương và vượt 6,9% dự toán địa phương giao. Trong đó, thu cân đối ngân sách đạt 10.166,1 tỷ đồng, vượt 18,1% dự toán Trung ương và vượt 8,9% dự toán địa phương giao; Thu từ xuất nhập khẩu đạt 2.537,6 tỷ đồng, đạt 99,5% dự toán Trung ương và địa phương giao.Việc quản lý, điều hành chi ngân sách đảm bảo chặt chẽ; theo đúng dự toán được duyệt, tiết kiệm, hiệu quả, đúng chế độ quy định; quản lý tạm ứng vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước được tăng cường. Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn 11 tháng năm 2025 ước tính đạt 28.804,1 tỷ đồng, vượt 3,1% dự toán Trung ương và đạt 98,1% dự toán địa phương giao.b) Tín dụngCác tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp điều tiết tỷ giá, lãi suất theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu vốn, giữ vững ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, thị trường vàng. Ước tính đến 30/11/2025, tổng số vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 135.640 tỷ đồng, tăng 17,6% so với đầu năm, tăng 0,8% so với tháng trước; tổng dư nợ cho vay đạt 167.723 tỷ đồng, tăng 12,7% so với đầu năm, tăng 1,5% so với tháng trước.II. XÃ HỘI1. Y tếTrong tháng, ngành Y tế tiếp tục chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh, ban hành các văn bản hướng dẫn xử lý môi trường, kiểm soát dịch sau bão lũ, đồng thời tăng cường tiêm chủng mở rộng, phòng chống cúm mùa và cúm gia cầm có nguy cơ lây sang người. Công tác giám sát dịch bệnh được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, đảm bảo kiểm soát hiệu quả các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Bên cạnh đó, bảo đảm công tác phục vụ y tế cho các sự kiện chính trị - xã hội lớn, xử lý kịp thời sự cố y khoa, tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn và duy trì hoạt động khám chữa bệnh tại tất cả cơ sở y tế. Song song với đó, công tác chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh; 100% bệnh viện trên địa bàn tỉnh đã triển khai hệ thống HIS, LIS, PACS và bệnh án điện tử, cùng với việc gia tăng tỷ lệ người dân sử dụng Sổ sức khỏe điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng khám chữa bệnh.- Ngộ độc thực phẩmTrong tháng, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào. Tính chung 11 tháng năm 2025, xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm với 77 người, không có trường hợp tử vong.- Tình hình nhiễm HIV/AIDSTrong tháng, trên địa bàn tỉnh phát hiện 01 trường hợp nhiễm mới HIV, 04 trường hợp tử vong. Tính chung 11 tháng, toàn tỉnh phát hiện 19 trường hợp nhiễm mới HIV, 09 trường hợp tử vong do HIV/AIDS. Tính đến thời điểm báo cáo, số người nhiễm HIV còn sống tại Quảng Trị là 598 người, số bệnh nhân tử vong do AIDS là 274 người.- Tình hình bệnh truyền nhiễmTrong tháng 11, trên địa bàn toàn tỉnh ghi nhận 279 ca mắc bệnh tiêu chảy, tăng 0,72% (+02 ca) so với cùng kỳ năm trước; 09 ca mắc quai bị (+8 ca); 354 ca mắc cúm, giảm 58,06% (-490 ca); 35 ca mắc tay chân miệng, tăng 169,23% (+22 ca); 19 ca thủy đậu, giảm 50% (-19 ca); 339 ca mắc sốt xuất huyết, giảm 62,54% (-566 ca). Không ghi nhận ca nào mắc bệnh lỵ trực trùng; viêm gan vi rút; lỵ Amíp; COVID-19; ho gà; viêm não Nhật Bản.Nhìn chung, tình hình dịch bệnh tháng 11 năm 2025 được kiểm soát, nhiều bệnh như cúm, thủy đậu và sốt xuất huyết giảm mạnh so với cùng kỳ. Một số bệnh có xu hướng tăng gồm tay chân miệng và quai bị, song chưa ghi nhận diễn biến bất thường. Các bệnh nguy hiểm khác không phát sinh ca mắc, cho thấy công tác phòng chống dịch tiếp tục được duy trì hiệu quả.2. Giáo dục, đào tạoTrong tháng 11, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị đã triển khai đồng bộ nhiều nhiệm vụ quan trọng trên toàn ngành, tập trung công tác chỉ đạo, điều hành, quán triệt các nghị quyết và chương trình hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tỉnh ủy và UBND tỉnh thông qua các hội nghị trực tuyến, đảm bảo toàn ngành nắm vững định hướng phát triển giáo dục trong giai đoạn mới. Hoàn thành nhiều nhiệm vụ tham mưu quan trọng như dự thảo các nghị quyết trình HĐND tỉnh, ban hành quy chế thi học sinh giỏi, xây dựng kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW và các văn bản liên quan đến đổi mới giáo dục, phổ cập giáo dục và phân luồng học sinh.Trong công tác chuyên môn, đã tổ chức thành công Hội thi thiết bị đào tạo tự làm lần thứ I, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong giảng dạy; triển khai nhiều hoạt động giáo dục kỹ năng, phòng chống tệ nạn, nổi bật là chương trình “Trường học không ma túy”, “Em yêu biển đảo quê hương” và “Không một mình - Cùng nhau an toàn trực tuyến”.Về công tác an sinh giáo dục, đã trao tặng 15.000 áo ấm cho trẻ mầm non vùng khó khăn, hỗ trợ các trường bị ảnh hưởng do bão số 10 với kinh phí 1,2 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các đơn vị trong toàn ngành giáo dục và đào tạo đã chủ động ứng phó thiên tai, đảm bảo an toàn cho học sinh và cơ sở vật chất trường học trước mưa lớn, lũ quét và sạt lở đất.Trong phát triển cơ sở hạ tầng giáo dục, tổ chức khởi công 4 trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới; triển khai nâng cấp, sửa chữa hàng loạt trường học và hoàn thành dự toán ngân sách giáo dục năm 2026. Đồng thời, tiếp tục thực hiện mua sắm thiết bị dạy học theo các chương trình mục tiêu quốc gia và đề án đổi mới giáo dục phổ thông.Ngoài ra, ngành Giáo dục đã tăng cường kiểm định chất lượng giáo dục, thành lập các đoàn đánh giá ngoài, tổ chức tập huấn chương trình giáo dục phổ thông sửa đổi và phát triển năng lực số cho học sinh và giáo viên. Công tác kiểm tra nhiệm vụ năm học cũng được triển khai tại nhiều cơ sở giáo dục trên toàn tỉnh.Nhìn chung, tháng 11 là giai đoạn ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị triển khai mạnh mẽ nhiều hoạt động trọng tâm, vừa bảo đảm nhiệm vụ chuyên môn, vừa phục vụ công tác an sinh giáo dục, ứng phó thiên tai và chuẩn bị điều kiện cho các kế hoạch, chương trình lớn của năm tiếp theo.3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thaoa) Hoạt động văn hóaTrong tháng 11, các hoạt động văn hóa, cổ động, tuyên truyền và văn nghệ tiếp tục được triển khai mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh, gắn với các sự kiện chính trị quan trọng và các ngày lễ lớn. Các hoạt động tập trung phục vụ tuyên truyền chào mừng Đại hội MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2025 - 2030; kỷ niệm 80 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh đầu tiên về bảo tồn di sản văn hóa và 20 năm Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền hướng đến Đại hội XIV của Đảng.Nhiều chương trình trưng bày, tọa đàm, triển lãm, luân chuyển sách, chiếu phim lưu động và giao lưu văn nghệ được tổ chức phong phú tại các địa phương, đặc biệt ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Các lớp tập huấn về xây dựng mô hình đời sống văn hóa, bảo tồn văn hóa dân tộc Bru-Vân Kiều và truyền dạy văn hóa phi vật thể tiếp tục được triển khai, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.b) Hoạt động thể dục, thể thaoTrong tháng 11, các hoạt động thể dục thể thao trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi, gắn với việc tổ chức các môn thi đấu trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Quảng Trị lần thứ I năm 2025. Tổ chức thành công Giải Bóng bàn; tiếp tục hướng dẫn, đôn đốc các xã, phường triển khai Đại hội TDTT cấp cơ sở theo đúng tiến độ.Phong trào thể dục thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì, nhiều giải thể thao cơ sở, giao lưu thể thao cộng đồng được tổ chức, góp phần nâng cao sức khỏe và thúc đẩy phong trào rèn luyện thân thể trong Nhân dân.Về thể thao thành tích cao, các đội tuyển của tỉnh tham gia 02 giải quốc gia, đạt 07 huy chương gồm 02 Huy chương Bạc và 05 Huy chương Đồng. Ngoài ra, đoàn vận động viên người khuyết tật của tỉnh tham gia giải vô địch quốc gia môn Điền kinh người khuyết tật đạt thành tích nổi bật với 13 huy chương (06 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc, 05 Huy chương Đồng), tiếp tục khẳng định sự tiến bộ của thể thao tỉnh Quảng Trị trên đấu trường toàn quốc.4. Tình hình trật tự an toàn xã hội- An toàn giao thôngTháng 11 năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông, làm 12 người chết, 6 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 40% (-10 vụ), số người chết tăng 9,09% (+01 người), số người bị thương giảm 64,71% (-11 người). Tất cả các vụ tai nạn giao thông đều xảy ra trên đường bộ. Lũy kế 11 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 280 vụ tai nạn giao thông, làm 183 người chết, 194 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 25,13% (-94 vụ), số người chết giảm 6,63% (-13 người), số người bị thương giảm 26,51% (-70 người). Trong các vụ tai nạn xảy ra có 277 vụ tai nạn xảy ra trên đường bộ, 02 vụ đường sắt và 01 vụ đường thủy [3].- Tình hình cháy nổTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ cháy (không có cháy rừng). Không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính 974,74 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy tăng 04 vụ. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 27 vụ cháy (trong đó: Có 05 vụ cháy rừng, thiệt hại 9,5 ha), với giá trị thiệt hại ước tính 1.619,68 triệu đồng, không có thiệt hại về người- Tình hình thiên taiTừ cuối tháng 10 đến hết tháng 11, do ảnh hưởng của bão, hoàn lưu Bão số 13 và áp lạnh lục địa tăng cường kết hợp với nhiễu động gió đông trên cao trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 đợt mưa, lũ gây ngập lụt cục bộ, làm chia cắt nhiều tuyến giao thông. Toàn tỉnh ghi nhận hàng trăm vị trí đường bị ngập lụt, sạt lở, mưa lũ gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và sản xuất. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 345 tỷ đồng.+ Về người: 12 người chết và 05 người bị thương.+ Về nhà ở: Không có thiệt hại.+ Thiệt hại trong sản xuất: Ngập, ảnh hưởng 24,2 ha lúa và 528,8 ha hoa màu; thiệt hại 33 con gia súc và 2.393 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; nhiều công trình hạ tầng, cây xanh và cơ sở sản xuất bị ảnh hưởng.5. Tình hình nổi bật khác về xã hộiTrong tháng 11/2025, nhiều chính sách an sinh xã hội tiếp tục được triển khai, thể hiện sự quan tâm đến đời sống cán bộ, Nhân dân, đặc biệt là các đối tượng yếu thế, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững. Các mô hình sinh kế được đa dạng hóa cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng miền núi, biên giới như nuôi dê, chăn nuôi bò, trồng cây dược liệu hoặc phát triển nông nghiệp gắn với du lịch, từ đó góp phần tạo thu nhập ổn định. Tiếp tục huy động nguồn lực xã hội nhằm củng cố quỹ “Vì người nghèo” và hỗ trợ các hộ khó khăn; trong tháng đã khánh thành 20 căn nhà đại đoàn kết trị, giá khoảng 100 triệu đồng mỗi căn. Phong trào “Xóa nhà tạm, nhà dột nát” được đẩy mạnh, giúp nhiều hộ nghèo và đối tượng chính sách có nhà ở kiên cố.Vào tháng 11 hằng năm, khắp các khu dân cư trên địa bàn tỉnh, tổ chức "Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc" đã trở thành nét đẹp văn hóa đặc sắc, dấu ấn chính trị - xã hội quan trọng, tạo nên không gian sinh hoạt cộng đồng ấm áp, gắn bó và thấm đượm tình đoàn kết của mỗi khu dân cư, tăng cường sự gắn bó mật thiết giữa lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên với các tầng lớp nhân dân nhằm củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh của địa phương.Những ngày qua, các cấp công đoàn cơ sở, công đoàn xã, phường trên địa bàn tỉnh tích cực tổ chức Đại hội nhiệm kỳ 2025 - 2030, với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đổi mới - Phát triển”, hướng đến mục tiêu đổi mới cơ bản về mô hình tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động. Sự kiện này là tiền đề vững chắc cho việc cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào phong trào công nhân, viên chức, lao động trong giai đoạn phát triển mới, đặc biệt sau đợt sắp xếp tổ chức, bộ máy hành chính lớn của tỉnh.Trong tháng, tình hình mưa lũ ở tỉnh Quảng Trị đã gây ra nhiều ảnh hưởng nặng nề đối với người dân, đặc biệt là bà con nông dân, từ mất mát mùa màng, gia súc, đến gián đoạn sản xuất và sinh hoạt. Chính quyền các cấp đã huy động nguồn lực lớn để giúp người dân khắc phục hậu quả và đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân vùng sạt lở./.[1] Nguồn: Báo cáo số 506/BC-CNTY ngày 19/11/2025 của Chi cục Chăn nuôi và Thú y.[2] Chỉ số giá điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tháng 11/2025 được tính dựa trên doanh thu và sản lượng tiêu dùng của tháng 10/2025 (từ ngày 01 đến 31/10), do đó phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác.[3] Theo báo cáo của Ban an toàn Giao thông tỉnh Quảng Trị.
BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 10 VÀ 10 THÁNG NĂM 2025
- 20/05/2026 08:45
Tháng 10/2025, trong bối cảnh tình hình quốc tế, trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt thiên tai diễn biến rất phức tạp, bất thường và có xu hướng cực đoan hơn so với trung bình nhiều năm; tuy nhiên, tỉnh Quảng Trị đã cố gắng vượt qua các khó khăn, tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, tranh thủ các thời cơ phát triển, thúc đẩy các động lực tăng trưởng, quyết tâm nỗ lực, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch năm 2025. Kết quả đạt được trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong tháng 10 và 10 tháng năm 2025 như sau:I. KINH TẾ1. Nông, lâm nghiệp và thủy sảna) Nông nghiệp- Trồng trọt* Sơ bộ kết quả sản xuất vụ Hè ThuTriển khai sản xuất vụ Hè Thu năm nay thời tiết đầu vụ bất lợi do gặp mưa lớn đợt cuối tháng 5, những vùng trũng lúa bị ngập ngâm lâu ngày phải gieo lại, riêng lúa tái sinh có 3.734 ha bị ngập nặng ngâm nước lâu ngày thối gốc không khắc phục được nên mất trắng. Các loại cây trồng khác chủ yếu ở vùng cao không bị ảnh hưởng nên năng suất vẫn đảm bảo, một số cây tăng so với cùng kỳ năm trước. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm thực hiện 77.652,3 ha, giảm 0,8% so với vụ Hè Thu năm trước.Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu vụ Hè Thu như sau:- Cây lúa: Diện tích lúa toàn tỉnh thực hiện 46.482,1 ha, giảm 0,8%; sơ bộ năng suất bình quân đạt 45,56 tạ/ha, giảm 11,6%; theo đó, sơ bộ sản lượng toàn vụ đạt 211.753,8 tấn, giảm 12,3% so với vụ Hè Thu năm trước. Nguyên nhân giảm do cuối tháng 9 tình hình mưa, bão diễn biến phức tạp nên người dân tập trung thu hoạch sớm hết diện tích lúa Hè Thu với diện tích 42.748,1 ha và có 3.734 ha lúa bị mất trắng.- Các loại cây trồng khác:Diện tích: Cây ngô thực hiện 1.430,3 ha, giảm 6,9%; khoai lang 639,1 ha, giảm 12,2%; sắn 20.194,2 ha, tăng 0,5%; lạc 544,2 ha, giảm 8,9%; rau các loại 3.557,3 ha, giảm 2,3%; đậu đỗ các loại 1.733,5 ha, giảm 2,1% so với vụ Hè Thu năm trước.2Năng suất: Cây ngô ước đạt 34,77 tạ/ha, tăng 1,9%; khoai lang đạt 65,21 tạ/ha, tăng 0,1%; sắn đạt 163,68 tạ/ha, tăng 0,1%; lạc đạt 19,27 tạ/ha, tăng 1,3%; rau các loại đạt 101,10 tạ/ha, tăng 0,2%; đậu các loại đạt 10,41 tạ/ha, tăng 3,2% so với vụ Hè Thu năm trước.Sản lượng: Cây ngô 4.973,4 tấn, giảm 5,1%; khoai lang 4.167,5 tấn, giảm 12,1%; sắn 330.535,8 tấn, tăng 0,6%; lạc 1.048,5 tấn, giảm 7,8%; rau các loại 35.964,5 tấn, giảm 2,1%; đậu các loại 1.804,4 tấn, tăng 0,9% so với vụ Hè Thu năm trước.Hình 1. Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Hè Thu 2025* Ước tính kết quả sản xuất vụ MùaƯớc tính diện tích gieo trồng lúa vụ Mùa năm 2025 toàn tỉnh thực hiện 1.556,8 ha, giảm 7,0% so với vụ Mùa năm trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu là do diện tích lúa rẫy tiếp tục thu hẹp vì năng suất thấp, quỹ đất hạn chế và xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Ở nhiều nơi trong tỉnh, việc trồng lúa rẫy chỉ còn mang tính phong tục, nhằm duy trì và lưu giữ nguồn giống truyền thống. Bên cạnh đó, một số hộ dân có đất bạc màu, điều kiện canh tác khó khăn và lợi nhuận thấp đã chuyển sang trồng các loại cây khác như chuối, cao su hoặc tham gia trồng rừng tập trung để nâng cao hiệu quả kinh tế.* Sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang khẩn trương thu hoạch dứt điểm các loại cây trồng vụ Hè Thu và vụ Mùa để chuẩn bị cho sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026. Dự kiến trong tháng 11, các địa phương sẽ tiến hành chuẩn bị làm đất và gieo trồng các loại rau màu vụ Đông Xuân nhằm đảm bảo khung lịch thời vụ sản xuất.- Chăn nuôiSản xuất chăn nuôi 10 tháng năm 2025 có nhiều biến động do ảnh hưởng của dịch bệnh trên đàn lợn, đặc biệt là trong những tháng đầu quý III. Từ giữa tháng 9 đến nay dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn, tình hình tiêu thụ thuận lợi hơn nên người chăn nuôi, đặc biệt là các trang trại đã tái đàn trở lại, do đó dự kiến tổng đàn sẽ tăng trong thời gian tới.Số lượng đàn ước tính đến 30/10/2025: Đàn trâu 50.003 con, giảm 2,6%; đàn bò 151.060 con, tăng 1,6%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 456.130 con, giảm 7,1%; đàn gia cầm 10.079,5 ngàn con, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 10 đạt 11.573,9 tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 186,4 tấn, giảm 0,1%; thịt bò 1.193 tấn, tăng 8,4%; thịt lợn 6.252 tấn, giảm 4,3%; thịt gia cầm 3.942,5 tấn, tăng 6,4% (trong đó: Thịt gà 2.893,5 tấn, tăng 7,2%) so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng 10 tháng đạt 127.299,4 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 2.159,4 tấn, giảm 1,6%; thịt bò 10.925,7 tấn, tăng 8,0%; thịt lợn 73.240,2 tấn, giảm 0,3%; thịt gia cầm 40.974,1 tấn, tăng 4,8% (trong đó: Thịt gà 30.855,8 tấn, tăng 5,5%) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do giá cả và đầu ra của sản phẩm thịt gia cầm hiện nay tương đối ổn định. Bên cạnh đó, tâm lý e ngại dịch bệnh trên đàn lợn khiến người tiêu dùng chuyển sang sử dụng thịt gia cầm nhiều hơn, vì vậy các hộ chăn nuôi mở rộng quy mô chăn nuôi gia cầm để đáp ứng nhu cầu thị trường.Hình 2. Sản lượng thịt hơi xuất chuồngTình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm:- Bệnh dịch tả lợn châu Phi: Tính đến ngày 21/10/2025, dịch bệnh đã xảy ra ở 11.590 hộ/711 thôn/64 xã, làm 99.396 con lợn buộc tiêu hủy với trọng lượng 6.217.740 kg. Hiện còn 37/64 xã/phường có dịch chưa qua 21 ngày và 27/64 xã đã qua 21 ngày.- Bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò: Tính đến ngày 21/10/2025, có 5 con bò/4 hộ/2 thôn mắc bệnh, trong đó có 3 con bò chết với trọng lượng 430 kg, 2 con đã lành về triệu chứng. Hiện ổ dịch đã qua 21 ngày và địa phương đã tổ chức công bố hết dịch theo quy định [1].b) Lâm nghiệpTháng 10 năm nay bước vào mùa mưa, lũ sớm hơn so với cùng kỳ năm trước nên diện tích rừng trồng mới thấp hơn cùng kỳ. Diện tích rừng trồng tháng 10 ước đạt 2.380,0 ha, giảm 0,1%; lũy kế 10 tháng ước đạt 17.677,7 ha, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Các đơn vị có hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn đã chú trọng đưa kỹ thuật tiên tiến áp dụng trong việc trồng và chăm sóc. Vì vậy, hầu hết diện tích rừng trồng trên địa bàn sinh trưởng, phát triển nhanh qua các năm, độ che phủ đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn.Sản lượng gỗ khai thác tháng 10 ước đạt 194.944,0 m3, giảm 1,4%; lũy kế 10 tháng ước đạt 1.926.063,0 m3, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng chủ yếu là rừng sản xuất, do một số diện tích rừng trồng đã đến kỳ khai thác, nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu tăng cao phục vụ sản xuất, xây dựng.Từ đầu tháng 10 đến nay, trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra cháy rừng. Lũy kế 10 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 9,5 ha; 4 vụ vi phạm rừng và diện tích rừng bị phá 0,8 ha.Công tác bảo vệ rừng luôn được các cấp, các ngành quan tâm và triển khai kịp thời. Các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho người dân vùng có rừng được thực hiện thường xuyên, tổ chức tập huấn công tác phòng chống cháy rừng cho các chủ rừng, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi phá rừng trái phép.c) Thủy sảnTháng 10, thời tiết diễn biến bất thường ảnh hưởng đến sản xuất thủy sản nên ngư dân đã tranh thủ những lúc thời tiết thuận lợi tăng cường vươn khơi bám biển. Các hộ nuôi trồng thủy sản tích cực gia cố bờ bao, tiếp tục chăm sóc, khẩn trương thu hoạch.Sản lượng thủy sản tháng 10 ước đạt 8.608,0 tấn, tăng 2,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá 6.501,9 tấn, tăng 1,8%; tôm 612,0 tấn, tăng 2,0%; thuỷ sản khác 1.494,1 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước.Hình 3. Sản lượng thủy sảnSản lượng thủy sản 10 tháng ước đạt 122.827,2 tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá 98.799,6 tấn, tăng 1,8%; tôm 8.845,7 tấn, giảm 1,4%; thuỷ sản khác 15.181,9 tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước.- Khai thácTình hình khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh trong tháng 10 có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, những ngày cuối tháng 10, trên địa bàn tỉnh có bão, mưa lớn, lũ lụt nên sản lượng khai thác thuỷ sản tăng thấp so với các tháng trước.Sản lượng khai thác tháng 10 ước đạt 7.319,7 tấn, tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá các loại 5.680,4 tấn, tăng 1,9%; tôm các loại 203,2 tấn, tăng 0,8%; thủy sản khác 1.436,1 tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng khai thác 10 ước đạt 103.151,7 tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Cá các loại 86.703,6 tấn, tăng 2,3%; tôm các loại 1.856,8 tấn, tăng 0,7%; thủy sản khác 14.591,3 tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước.Hiện nay, khu vực miền Trung đang bước vào mùa mưa, bão. Để chủ động ứng phó với diễn biến phức tạp của thời tiết, tỉnh Quảng Trị đã tăng cường công tác giám sát, kiên quyết không cho tàu thuyền ra khơi trong thời gian cấm biển. Đồng thời, các cơ quan chức năng hướng dẫn và sắp xếp tàu thuyền neo đậu, tránh trú bão an toàn, đúng quy định.- Nuôi trồngCuối tháng 9, do ảnh hưởng của bão số 10 nên ở những vùng trũng thấp người dân đã chủ động thu hoạch sớm. Tuy nhiên, vẫn còn một số diện tích ao hồ bị ngập do mưa lớn làm ảnh hưởng đến tiến độ thu hoạch sản lượng thủy sản.Ước tính sản lượng nuôi trồng tháng 10 đạt 1.288,3 tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá các loại 821,5 tấn, tăng 1,1%; tôm các loại 408,8 tấn, tăng 2,6%; thủy sản khác 58,0 tấn, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng nuôi trồng 10 tháng đạt 19.675,5 tấn, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá các loại 12.096,0 tấn, giảm 1,5%; tôm các loại 6.988,9 tấn, giảm 1,9%; thủy sản khác 590,6 tấn, giảm 7,1% so với cùng kỳ năm trước.Nhằm chủ động ứng phó với mưa bão trong những tháng tới, các hộ nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh đã tích cực gia cố hồ, ao nuôi và đẩy nhanh tiến độ thu hoạch, hạn chế tối đa thiệt hại khi thiên tai xảy ra.2. Công nghiệpTháng 10, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Trong tháng, nguồn nguyên liệu tinh bột sắn đã đi vào chính vụ nên ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng cao so với tháng trước. Các dự án thủy điện đạt sản lượng cao nhờ điều kiện thủy văn thuận lợi. Lượng nước về các hồ chứa lớn cho phép các tổ máy vận hành ổn định với công suất cao. Tuy nhiên, một số dự án điện gió đạt sản lượng thấp do thời tiết không thuận lợi, tốc độ gió thay đổi đột ngột không đạt mức tối ưu, một số dự án ngừng để bảo trì, bảo dưỡng đã tác động đến tăng trưởng của ngành công nghiệp.Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 10 ước tính tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 6,5%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính 10 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 10,6%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,5%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước.Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệpTrong ngành công nghiệp cấp 2, một số ngành có chỉ số sản xuất 10 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Khai khoáng khác tăng 16,1%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 14,0%; in, sao chép bản in các loại tăng 12,1%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,3%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 9,8%; sản xuất sản phẩm từ phi kim loại đúc sẵn tăng 9,7%. Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất da và các sản phẩm liên quan giảm 5,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 3,2%; khai thác quặng kim loại giảm 43,5% (ngành khai thác quặng kim loại giảm mạnh chủ yếu do một số mỏ khai thác thời gian dài bắt đầu cạn kiệt, hàm lượng kim loại trong quặng thấp, khiến chi phí khai thác tăng cao không còn hiệu quả kinh tế nên doanh nghiệp tạm dừng khai thác. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp tồn kho cao, chưa tiêu thụ hết nên giảm sản lượng khai thác).Sản lượng sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 10 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước như: đá xây dựng đạt 2.360.197 m3, tăng 10,8%; cao lanh đạt 95.814 tấn, tăng 52,0%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 30.760 tấn, tăng 4,8%; tinh bột sắn đạt 82.019 tấn, tăng 6,2%; áo sơ mi đạt 11.172 nghìn cái, tăng 13,8%; dăm gỗ đạt 761.112 tấn, tăng 14,6%; ván ép từ gỗ đạt 247.444 m3, tăng 13,7%; viên gỗ đạt 38.601 tấn, tăng 82,9%; Clinker thành phẩm đạt 2.426.045 tấn, tăng 10,3%; thủy điện đạt 632 triệu kWh, tăng 11,7%;... Một số sản phẩm sản xuất 10 tháng năm 2025 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Quặng ilmenite đạt 10.500 tấn, giảm 43,9%; quặng titan đạt 21.884 tấn, giảm 45,0%; nước khoáng có ga đạt 1.461 nghìn lít, giảm 13,2%; cao su tổng hợp đạt 1.055 tấn, giảm 25,4%; điện mặt trời đạt 259 triệu kWh, giảm 2,4%.3. Vốn đầu tưVốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 10 tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng do kế hoạch vốn đầu tư công năm 2025 được giao và phân bổ cao hơn so với năm 2024. Cùng với đó, các địa phương tập trung đẩy mạnh tiến độ thực hiện, giải ngân nhằm hoàn thành kế hoạch năm; nhiều dự án hạ tầng giao thông, dân dụng, nông thôn mới và phòng chống thiên tai bước vào giai đoạn thi công cao điểm, khối lượng thực hiện tăng mạnh.Ngoài ra, một số dự án vướng mắc về mặt bằng, thủ tục đầu tư ở các tháng trước đã được tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy nhanh tiến độ thi công và thanh toán khối lượng. Bên cạnh đó, việc bổ sung, điều chỉnh kế hoạch vốn trong quý III cùng với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền đã góp phần thúc đẩy giải ngân, làm giá trị vốn thực hiện tăng cao so với cùng kỳ năm trước.Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 10 ước đạt 1.237,2 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 62,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 1.192,5 tỷ đồng, tăng 70,9%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 44,7 tỷ đồng, giảm 29,4% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 10 tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.809,1 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 7.451,8 tỷ đồng, tăng 39,4%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 357,3 tỷ đồng, giảm 28,9% so với cùng kỳ năm trước.Một số dự án trọng điểm đang được triển khai trên địa bàn tỉnh như: Dự án thành phần 1 - Đường ven biển thuộc dự án Đường ven biển và cầu Nhật Lệ 3; Dự án thành phần 1 - Đầu tư xây dựng Quốc lộ 12A đoạn tránh thị xã Ba Đồn; Đường và cầu vượt đường sắt trung tâm thành phố Đồng Hới; Dự án đường và kè nối từ cầu Nhật Lệ 2 đến Khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão và hậu cần nghề cá (phía Nam cầu Nhật Lệ 3); Dự án khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá Bắc sông Gianh; Dự án đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật Khu kinh tế Hòn La; Dự án nâng cấp tuyến đường tỉnh 562; Dự án tuyến đường Phú Hải - Lương Ninh; Dự án đường tránh phía Đông thành phố Đông Hà (đoạn từ nút giao đường Nguyễn Hoàng đến Nam cầu sông Hiếu); Dự án đường nối Khu công nghiệp Đông Nam Quảng Trị đến cảng Cửa Việt (Đường trung tâm trục dọc Khu kinh tế Đông Nam tỉnh Quảng Trị); Dự án san nền và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu tại Khu cực Trung tâm Cửa khẩu quốc tế La Lay (Giai đoạn 2); Dự án kè chống xói lở khẩn cấp bờ biển đoạn từ xã Gio Hải đến thị trấn Cửa Việt; Dự án đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ y tế tuyến cơ sở dự án thành phần tại tỉnh Quảng Trị; Dự án tuyến đường bộ ven biển đoạn tuyến qua khu vực cầu Cửa Tùng và Cửa Việt; Dự án tuyến đường kết nối Cảng hàng không Quảng Trị; Dự án đường nối đường Hồ Chí Minh nhánh Đông với đường Hồ Chí Minh nhánh Tây.4. Thương mại, dịch vụa) Tổng mức bán lẻ hàng hoáTổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 10 giảm nhẹ so với tháng trước do bước vào mùa mưa bão, nhu cầu đi lại, tham quan du lịch của người dân giảm đã tác động đến một phần giảm của tổng mức bán lẻ; nhưng so với cùng kỳ năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 15,4%, cho thấy hoạt động thương mại, dịch vụ duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong tháng, nguồn cung hàng hóa ổn định, một số mặt hàng giảm nhẹ do yếu tố mùa vụ. Doanh nghiệp thương mại tiếp tục triển khai chương trình khuyến mãi, kích cầu tiêu dùng nội địa, thị trường bán lẻ nhìn chung vận hành ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của địa phương trong những tháng cuối năm.Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 10 ước giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu các nhóm hàng hóa tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ, cụ thể: Nhóm may mặc ước tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 19,4% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 18,9% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác ước tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 4,3% so với cùng kỳ; nhóm đá quý, kim loại quý ước tăng 3,8% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ; nhóm hàng hóa khác ước tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 11,1% so với cùng kỳ.Bên cạnh đó, nhóm hàng hóa có doanh thu giảm so với tháng trước đó là: Nhóm lương thực, thực phẩm ước giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước giảm 1,0% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục ước giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước giảm 1,1% so với tháng trước và tăng 19,1% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước giảm 1,1% so với tháng trước và tăng 15,0% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước giảm 1,0% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ.Hình 5. Tổng mức bán lẻ hàng hóaTính chung 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tính tăng 12,4% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm ngành đều tăng cao so với cùng kỳ. Chiếm tỷ trọng lớn và tăng cao là nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 13,3% so với cùng kỳ, đóng góp tăng cao nhất 5,0 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa.b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hànhTrong tháng 10, thời tiết chuyển sang mùa mưa, bão đã ảnh hưởng đến hoạt động du lịch trên địa bàn. Nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của người dân và du khách giảm, đặc biệt là đối với các Tour du lịch lữ hành, khiến lượng khách lưu trú tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch giảm so với tháng trước.- Dịch vụ lưu trú:Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 10 ước giảm 8,2% so với tháng trước và tăng 19,6% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng tăng 17,3% so với cùng kỳ.Số lượt khách lưu trú tháng 10 ước giảm 7,6% so với tháng trước và tăng 20,0% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng tăng 15,6% so với cùng kỳ.Ngày khách tháng 10 ước giảm 6,8% so với tháng trước và tăng 20,9% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng tăng 17,0% so với cùng kỳ.- Dịch vụ ăn uống:Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 10 ước giảm 5,4% so với tháng trước và tăng 19,1% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng tăng 16,1% so với cùng kỳ.Hình 6. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống- Du lịch lữ hành:Doanh thu hoạt động lữ hành tháng 10 ước giảm 15,2% so với tháng trước và tăng 10,2% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng tăng 20,4% so với cùng kỳ.Số lượt khách du lịch lữ hành tháng 10 ước giảm 18,6% so với tháng trước và tăng 23,1% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng tăng 13,4% so với cùng kỳ.Số ngày khách du lịch lữ hành tháng 10 ước giảm 18,6% so với tháng trước và tăng 21,3% so với cùng kỳ; tính chung 10 tháng tăng 12,4% so với cùng kỳ.Hình 7. Du lịch lữ hànhc) Các ngành kinh doanh dịch vụCác hoạt động thương mại, du lịch giảm kéo theo nhu cầu sử dụng các dịch vụ vui chơi, giải trí, lao động thời vụ,… giảm, do đó doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ tháng 10 giảm so với tháng trước.Ước tính doanh thu hoạt động dịch vụ khác tháng 10 giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 20,0% so với cùng kỳ. Cụ thể các nhóm ngành dịch vụ như sau: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 22,0% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước giảm 2,1% so với tháng trước và tăng 29,8% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 13,6% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 11,4% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước giảm 2,6% so với tháng trước và tăng 36,0% so với cùng kỳ; dịch vụ cá nhân khác ước tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ.Tính chung 10 tháng, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ tăng 14,5% so với cùng kỳ. Trong đó, các nhóm dịch vụ tăng cao, cụ thể: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 19,5%, đóng góp tăng 2,7 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 21,1%, đóng góp tăng 3,0 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 2,7%, đóng góp tăng 3,0 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ khác tăng 14,7%, đóng góp tăng 3,1 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của nhóm các ngành kinh doanh dịch vụ.d) Vận tảiTháng 10, thời tiết chuyển sang mùa mưa, bão nên nhu cầu đi lại cũng như vận chuyển hàng hóa của người dân giảm, lượng khách du lịch nội địa giảm đã làm doanh thu vận tải hành khách giảm so với tháng trước; bên cạnh đó, các công trình xây dựng có phần gián đoạn thi công do trời mưa, nhu cầu vận chuyển nguyên vật liệu giảm nên dẫn đến doanh thu vận tải hàng hoá giảm. Tính chung 10 tháng, doanh thu vận tải hành khách và hàng hóa đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước, điều này cho thấy sự tăng trưởng tích cực của ngành vận tải trong tình hình tăng chung của nền kinh tế.Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 10 ước tính giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ. Tính chung 10 tháng, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tăng 13,1%, trong đó: Vận tải hành khách tăng 12,2%; vận tải hàng hóa tăng 13,7%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước.Hình 8. Doanh thu hoạt động vận tải* Vận tải hành kháchTháng 10, số lượt hành khách vận chuyển ước tính giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước tính giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, số lượt hành khách vận chuyển tăng 12,2%; số lượt hành khách luân chuyển tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước.* Vận tải hàng hóaTháng 10, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tính giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tính giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 13,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 18,0% so với cùng kỳ năm trước.e) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Giá tiêu dùng tháng 10 không có nhiều biến động. Ngoài một số mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng giá như: Gạo, thịt lợn và một số mặt hàng thủy hải sản; còn lại một số mặt hàng thiết yếu giá giảm như: điện, nước, gas, xăng, dầu diesel,… Các yếu tố trên đã tác động đến Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2025 tăng 0,05% so với tháng trước, tăng 0,95% so với tháng 12 năm trước; tăng 2,79% so với tháng 10 năm trước; tính chung 10 tháng năm 2025 CPI tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước.Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 6 nhóm hàng tăng giá, 2 nhóm hàng giảm giá và 3 nhóm hàng giá ổn định. Có 6 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước đó là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,49%, tác động làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm, do tháng này mưa bão nhiều, chi phí đầu vào tăng nên giá các mặt hàng thiết yếu tăng, cụ thể như: thịt lợn, thịt bò, cá, tôm hải sản giá bắt đầu tăng; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,34%, tác động CPI chung tăng 0,01% điểm phần trăm; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,16%, tác động đến CPI chung tăng 0,01 điểm phần trăm; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%, đóng góp tăng 0,01 điểm phần trăm vào mức tăng chung của CPI; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,22% so với tháng trước, tác động đến CPI chung tăng 0,01 điểm phần trăm; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08%. Có 2 nhóm hàng giảm giá so với tháng trước đó là: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,42%, tác động đến CPI chung giảm 0,04 điểm phần trăm; nhóm giao thông giảm 0,94%, giảm chủ yếu do giá xăng dầu giảm, trong đó: giá xăng giảm 2,60%; giá dầu diesel giảm 0,55%, nhóm này đóng góp giảm 0,08 điểm phần trăm. Có 3 nhóm hàng chỉ số giá ổn định so với tháng trước đó là: nhóm thuốc và dịch vụ y tế, nhóm giáo dục và nhóm bưu chính viễn thông.Hình 9. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 10/2025 so với tháng trước- Chỉ số giá vàng 99,99%Giá vàng bình quân tháng 10 là 14,166 triệu đồng/chỉ vàng 9999, tăng 8,54% so với tháng trước, tăng 250,82% so với kỳ gốc 2019, tăng 60,95% so với cùng kỳ, bình quân 10 tháng tăng 42,15% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ (USD)Giá đô la Mỹ bình quân tháng 10 là 26.023 VNĐ/USD, giảm 0,09% so với tháng trước, tăng 13,71% so với kỳ gốc 2019, tăng 6,01% so với cùng kỳ, bình quân 10 tháng tăng 4,16% so với cùng kỳ.5. Thu, chi ngân sách nhà nước, tín dụnga) Thu, chi ngân sách Nhà nướcUBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt triển khai các nhiệm vụ tài chính ngân sách năm 2025, yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện đồng bộ giải pháp, biện pháp quản lý thu, chống thất thu ngân sách trên tất cả các lĩnh vực, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời khoản thu phát sinh theo quy định. Tổng thu ngân sách nhà nước 10 tháng năm 2025 trên địa bàn ước tính đạt 11.470,9 tỷ đồng, vượt 2,8% dự toán Trung ương và đạt 96,5% dự toán địa phương giao. Trong đó, thu cân đối ngân sách đạt 9.094,1 tỷ đồng, vượt 5,7% dự toán Trung ương và đạt 97,4% dự toán địa phương giao; Thu từ xuất nhập khẩu đạt 2.376,8 tỷ, đạt 93,2% dự toán Trung ương và địa phương giao.Việc quản lý, điều hành chi ngân sách đảm bảo chặt chẽ; theo đúng dự toán được duyệt, tiết kiệm, hiệu quả, đúng chế độ quy định; quản lý tạm ứng vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước được tăng cường. Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn 10 tháng năm 2025 ước tính đạt 26.492,1 tỷ đồng, đạt 94,8% dự toán Trung ương và đạt 90,2% dự toán địa phương giao.b) Tín dụngCác tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp điều tiết tỷ giá, lãi suất theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu vốn, giữ vững ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, thị trường vàng. Ước tính đến 31/10/2025, tổng số vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 135.263 tỷ đồng, tăng 17,3% so với đầu năm, tăng 1,5% so với tháng trước; tổng dư nợ cho vay đạt 165.185 tỷ đồng, tăng 11,0% so với đầu năm, tăng 1,1% so với tháng trước.II. XÃ HỘI1. Y tếĐến nay, trên địa bàn tỉnh, 100% bệnh viện (31/31 đơn vị) đã triển khai hệ thống bệnh án điện tử, góp phần chuẩn hóa quy trình chuyên môn, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, giảm thủ tục hành chính và tăng mức độ hài lòng của người dân. Trong công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là các bệnh tả, tay - chân - miệng, sốt rét, sốt xuất huyết, ngành Y tế đã chủ động, đồng thời phối hợp với Viện Pasteur Nha Trang và Bệnh viện Bạch Mai nâng cao năng lực giám sát, xét nghiệm và phòng chống dịch. Các địa phương tiếp tục tăng cường giám sát, kiểm soát các dịch bệnh có nguy cơ bùng phát, đồng thời triển khai các kế hoạch củng cố hệ thống y tế dự phòng, trong đó có hoạt động tiêm vắc-xin uốn ván - bạch hầu trong chương trình tiêm chủng mở rộng và rà soát tiêm bù liều cho trẻ em tại các cơ sở giáo dục.- Ngộ độc thực phẩmTrong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại xã Kim Ngân làm 41 người mắc, không có tử vong. Trong 10 tháng năm 2025, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 77 người mắc, không có trường hợp tử vong.- Tình hình nhiễm HIV/AIDSTrong tháng, trên địa bàn tỉnh phát hiện 01 trường hợp nhiễm mới HIV, không có trường hợp tử vong. Tính chung 10 tháng, toàn tỉnh phát hiện 18 trường hợp nhiễm mới HIV, 05 trường hợp tử vong do HIV/AIDS. Tính đến thời điểm báo cáo, số người nhiễm HIV còn sống tại Quảng Trị là 601 người, số bệnh nhân tử vong do AIDS là 270 người.- Tình hình bệnh truyền nhiễmTrong tháng 10, trên địa bàn toàn tỉnh ghi nhận 209 ca mắc bệnh tiêu chảy, tăng 33,12% (+52 ca) so với cùng kỳ năm trước; 13 ca mắc bệnh lỵ trực trùng, giảm 13,33% (-02 ca); 13 ca viêm gan vi rút, tăng 116,67% (+07 ca); 02 ca lỵ Amíp, giảm 77,78% (-07 ca); 09 ca mắc bệnh quai bị, tăng 200% (+06 ca); 1.183 ca mắc cúm, tăng 57,73% (+433 ca); 29 ca mắc tay - chân - miệng, tăng 141,67% (+17 ca); 19 ca thủy đậu, giảm 84,17% (-101 ca).Không ghi nhận ca mắc Adeno, COVID-19, ho gà và viêm não Nhật Bản. Riêng bệnh sốt xuất huyết, trong 10 tháng năm 2025 chỉ ghi nhận 792 ca, giảm 1.856 ca so với cùng kỳ năm trước.Tình hình các bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát tốt, có xu hướng giảm so với cùng kỳ, không xuất hiện ổ dịch lớn. Một số bệnh như tiêu chảy, cúm, tay - chân - miệng và quai bị có số ca mắc tăng nhẹ nhưng vẫn được kiểm soát. Đáng chú ý, bệnh sốt xuất huyết giảm mạnh, trong khi COVID-19, ho gà và viêm não Nhật Bản không ghi nhận ca mắc. Công tác phòng, chống dịch bệnh được duy trì thường xuyên, hiệu quả, góp phần ổn định tình hình y tế trên địa bàn.2. Giáo dục, đào tạoTrong tháng 10, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ và đạt được những kết quả tích cực như: Thực hiện tuyên truyền chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; tuyên truyền hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia và Ngày Chuyển đổi số tỉnh Quảng Trị năm 2025, cùng với các hoạt động kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10; tổ chức ký kết Chương trình phối hợp hoạt động năm học 2025 - 2026 với Tỉnh Đoàn Quảng Trị, đồng thời tổ chức Hội nghị Hội đồng chuyên môn cấp tiểu học; tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên năm học 2025 - 2026; Hội nghị tập huấn triển khai phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp; Hội nghị hướng dẫn công tác xét tặng danh hiệu “Nhà giáo nhân dân”, “Nhà giáo ưu tú” lần thứ 17 năm 2026.Ngoài ra, Sở Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn quan trọng như: hướng dẫn tổ chức dạy học 2 buổi/ngày; hướng dẫn tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi, giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi cơ sở giáo dục phổ thông; hướng dẫn xây dựng khung ma trận và khung bản đặc tả đề kiểm tra định kỳ cấp THCS, THPT.Xác định rõ vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục mầm non, đây là “giai đoạn vàng” để giáo dục và tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện của trẻ trong tương lai, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị luôn nỗ lực xây dựng một môi trường học tập an toàn, bình đẳng và chất lượng. Bên cạnh đó, cũng triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ trẻ em dân tộc thiểu số vượt qua rào cản ngôn ngữ, thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật và lan tỏa mô hình “Trường học hạnh phúc”. Thực hiện mục tiêu “lấy trẻ làm trung tâm”, tạo cơ hội học tập, vui chơi, phát triển toàn diện cho trẻ. Nhiều giải pháp đồng bộ được triển khai nhằm tăng cường tiếng Việt cho 100% trẻ dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1. Các trường học linh hoạt lồng ghép tiếng Việt vào hoạt động hằng ngày, giúp trẻ tiếp thu ngôn ngữ một cách tự nhiên và hiệu quả. Bên cạnh đó, công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật cũng rất được quan tâm.Đối với bếp ăn tập thể trong các cơ sở giáo dục trên địa bàn, Ban Chỉ đạo liên ngành An toàn thực phẩm tỉnh Quảng Trị vừa ban hành Kế hoạch tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm nhằm đẩy mạnh công tác quản lý, chủ động phát hiện và ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm thực phẩm, phòng chống ngộ độc và các bệnh truyền qua thực phẩm trong trường học. Đây được xem là biện pháp quan trọng nhằm chấn chỉnh công tác an toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học, bảo vệ sức khỏe học sinh, tạo môi trường học đường an toàn, lành mạnh, giúp các em yên tâm học tập, rèn luyện tốt.3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thaoa) Hoạt động văn hóaTrong tháng 10, các hoạt động cổ động, tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được đẩy mạnh, hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Nhiều chương trình trưng bày, triển lãm, cổ động trực quan, biểu diễn văn nghệ, thi đấu thể thao quần chúng được tổ chức phong phú, sôi nổi, tạo không khí thi đua rộng khắp, lan tỏa sâu rộng trong Nhân dân. Các hoạt động này không chỉ góp phần tuyên truyền, quảng bá hình ảnh một Quảng Trị năng động, đoàn kết, giàu bản sắc, mà còn nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, cổ vũ phong trào thi đua lập thành tích chào mừng sự kiện chính trị trọng đại của tỉnh.b) Hoạt động thể dục, thể thaoTổ chức thành công Giải Karate trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ I năm 2025. Đến nay, toàn tỉnh có 52/78 xã, phường, đặc khu ban hành văn bản triển khai công tác tổ chức Đại hội Thể dục thể thao cấp cơ sở, bảo đảm đúng tiến độ và hướng dẫn của tỉnh.Tổ chức triển khai “Tháng Hoạt động Thể dục Thể thao cho mọi người” và “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân”, nhằm khuyến khích Nhân dân tham gia rèn luyện thân thể, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng và phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng.Tiếp tục khẳng định vị thế của thể thao Quảng Trị trên đấu trường quốc gia, các đội tuyển thể thao của tỉnh tham gia đã đạt thành tích cao: 06 giải quốc gia, 13 huy chương (06 HCV, 02 HCB và 05 HCĐ).4. Tình hình trật tự an toàn xã hội- An toàn giao thôngTháng 10 (từ ngày 15/9/2025 đến ngày 14/10/2025), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông, làm 21 người chết, 32 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn tăng 7,14% (+02 vụ), số người chết tăng 23,53% (+04 người), số người bị thương tăng 128,57% (+18 người). Tất cả các vụ tai nạn giao thông đều xảy ra trên đường bộ. Lũy kế 10 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 265 vụ tai nạn giao thông, làm 171 người chết, 188 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 24,07% (-84 vụ), số người chết giảm 7,57% (-14 người), số người bị thương giảm 23,89% (-59 người). Trong các vụ tai nạn xảy ra có 262 vụ tai nạn xảy ra trên đường bộ, 02 vụ đường sắt và 01 vụ đường thủy (theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh).- Tình hình cháy nổTrong tháng xảy ra 03 vụ cháy (không có cháy rừng), không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính 45 triệu đồng (trong đó có 02 vụ đang điều tra làm rõ nguyên nhân và chưa thống kê được thiệt hại). So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy tăng 03 vụ. Lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 21 vụ cháy (Trong đó có 05 vụ cháy rừng, thiệt hại 9,5 ha), tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 644,94 triệu đồng, không có thiệt hại về người (theo số liệu của Công an tỉnh).- Tình hình thiên taiTrong tháng 10, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ thiên tai do bão số 10 (tên quốc tế: Bualoi). Từ chiều ngày 28/9/2025, bão đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỉnh Quảng Trị, đặc biệt là khu vực phía Bắc của tỉnh. Nhiều nơi ghi nhận gió mạnh cấp 9 - 10, giật cấp 12 - 13, kèm theo mưa lớn diện rộng, mực nước các sông dâng cao gây ngập lụt, chia cắt cục bộ tại nhiều khu vực. Bão đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và tình hình sản xuất.+ Về người: 05 người chết (trong đó có 04 thuyền viên ngoại tỉnh), 07 người mất tích (thuyền viên ngoại tỉnh) và 25 người bị thương.+ Về nhà ở: Có 5.094 ngôi nhà bị hư hại, tốc mái. Trong đó, 11 nhà bị sập, hư hỏng nặng trên 70%; 116 nhà hư hỏng, tốc mái từ 50 - 70%; 377 nhà thiệt hại từ 30 - dưới 50%; 4.590 nhà bị tốc mái dưới 30%.Cùng với nhiều thiệt hại trong trồng trọt, chăn nuôi cơ sở hạ tầng, cây xanh và sản xuất, tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 550 tỷ đồng.5. Tình hình nổi bật khác về xã hộiTrong tháng 10, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh ổn định, an sinh xã hội được đảm bảo, thu nhập của người lao động duy trì ổn định.Tỉnh tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững; chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn; chú trọng đào tạo nghề cho lao động gắn với đề án giảm nghèo bền vững, đào tạo nghề cho người khuyết tật ở miền núi, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động; triển khai nhiều giải pháp thiết thực, giúp người dân tiếp cận, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; thực hiện đầy đủ các chính sách, chế độ an sinh xã hội cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo, góp phần ổn định đời sống của người dân.Quảng Trị là một trong những địa phương ở miền Trung chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai, đặc biệt là mưa bão, lũ lụt. Nhằm chia sẻ, động viên người dân bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 10 xảy ra vào cuối tháng 9 vừa rồi, tỉnh đã tổ chức trao tiền, bộ dụng cụ sửa nhà cho người dân với số tiền 200 triệu đồng tiền mặt, 497 bộ dụng cụ sửa chữa nhà trị giá hơn 768 triệu đồng, từ nguồn hỗ trợ của Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, góp phần giúp người dân sớm khắc phục hậu quả và ổn định cuộc sống.Nhân kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2025), các cấp công đoàn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi và ý nghĩa như tọa đàm, chăm lo đoàn viên công đoàn, lao động nữ có hoàn cảnh khó khăn; tổ chức “Bữa cơm công đoàn”; giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao,… tạo không khí phấn khởi, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước trong nữ công nhân, viên chức, lao động./.[1] Nguồn: Báo cáo số 407/BC-CNTY ngày 23/10/2025 của Chi cục Chăn nuôi và Thú y
BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ III VÀ 9 THÁNG NĂM 2025
- 22/10/2025 09:45
Quý III là khoảng thời gian hết sức quan trọng để tăng tốc và phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) năm 2025. Tỉnh Quảng Trị thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn với những thuận lợi: Nền kinh tế cả nước tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát; môi trường đầu tư kinh doanh cải thiện góp phần tích cực cho phục hồi và phát triển KT - XH; các ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành du lịch phát triển mạnh mẽ; trong tỉnh, Quảng Trị sau hợp nhất đã tạo ra không gian rộng lớn, mở ra nhiều tiềm năng mới để phát triển kinh tế - xã hội,... Bên cạnh những thuận lợi, tình hình KT - XH vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; xung đột quân sự gia tăng tại một số quốc gia, khu vực; “chiến tranh thương mại” giữa các nước đang căng thẳng; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu,… đã làm gia tăng rủi ro đối với chuỗi cung ứng hàng hóa, thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường vàng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực toàn cầu; trong nước, việc phục hồi thị trường bất động sản vẫn còn nhiều rủi ro và thách thức; giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào tăng cao làm tăng chi phí sản xuất, vận tải, tạo áp lực lên kiểm soát lạm phát, biến đổi khí hậu khiến thời tiết diễn biến ngày càng khó lường, tần suất và cường độ thiên tai tăng rõ rệt, đe dọa trực tiếp đến đời sống, sinh kế và sự an toàn của người dân; trong tỉnh: dịch bệnh trên đàn gia súc diễn biến phức tạp; đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn; trong khi đó, các yếu tố nền tảng cho sự phát triển của tỉnh như: hạ tầng giao thông, khu công nghiệp còn nhiều hạn chế, bất cập; hạ tầng du lịch, nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số,... chưa đáp ứng được yêu cầu. Trong không khí thi đua sôi nổi chào mừng 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025), để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, UBND tỉnh đã yêu cầu các sở, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện khẩn trương, nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã được UBND tỉnh giao tại Kế hoạch hành động số 750/KH-UBND ngày 03/9/2025 thực hiện các nghị quyết của Chính phủ, Hội đồng nhân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước bảo đảm mục tiêu tăng trưởng tỉnh Quảng Trị năm 2025 đạt 8% trở lên nhằm tạo đà, tạo lực, tạo thế cho những năm sau tăng trưởng hai con số; nhờ đó, tình hình KT - XH quý III và 9 tháng năm 2025 của tỉnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận: Kinh tế ổn định và tăng trưởng khá, sản xuất lâm nghiệp và thủy sản phát triển ổn định; sản xuất công nghiệp duy trì tăng trưởng; các ngành dịch vụ, du lịch đạt kết quả tích cực; môi trường đầu tư từng bước được cải thiện; các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 được tổ chức sôi nổi và ý nghĩa; công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm và cải thiện; tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo. Kết quả đạt được cụ thể trên các lĩnh vực KT - XH trong quý III và 9 tháng năm 2025 như sau: I. KINH TẾ 1. Kết quả ước tính một số chỉ tiêu chủ yếu 9 tháng năm 2025 - Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh 2010 tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2024 tăng 6,47%). + Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,50% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2024 tăng 3,30%). + Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng tăng 10,29% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2024 tăng 7,78%); trong đó, giá trị tăng thêm công nghiệp tăng 7,65% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2024 tăng 5,88%). + Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tăng 8,34% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2024 tăng 7,09%). - Sản lượng lương thực vụ Đông Xuân 2024 - 2025 đạt 371.410,1 tấn, giảm 3,7% so với vụ Đông Xuân năm trước. - Sản lượng lương thực vụ Hè Thu 2025 đạt 227.063,5 tấn, giảm 8,0% so với vụ Hè Thu năm trước. - Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 115.827,9 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. - Sản lượng thủy sản đạt 114.250,6 tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. - Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 48.030,0 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước. - Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước.2. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Chín tháng năm 2025, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do tình hình sâu bệnh và ảnh hưởng cực đoan của thời tiết. Hoạt động trồng trọt thực hiện đúng tiến độ, đảm bảo lịch thời vụ đề ra tuy nhiên cuối vụ Đông Xuân và đầu vụ Hè Thu có mưa lớn, một số nơi bị thiệt hại đã ảnh hưởng đến năng suất vụ Đông Xuân và tiến độ gieo trồng vụ Hè Thu. Dịch bệnh chăn nuôi bùng phát và diễn biến phức tạp. Công tác trồng rừng, tuyên truyền, bảo vệ, phòng cháy và chữa cháy rừng được duy trì. Hoạt động sản xuất thủy sản tăng trưởng ổn định. a) Nông nghiệp * Trồng trọt Ước tính đến ngày 30/9/2025, diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh thực hiện 164.692,2 ha, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân thực hiện 85.472,3 ha, giảm 0,7%; vụ Hè Thu thực hiện 77.663,1 ha, giảm 0,8%; vụ Mùa thực hiện 1.556,8 ha, giảm 7,0% so với cùng kỳ năm trước.Diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu như sau: Cây lúa 103.519,0 ha, giảm 0,4%; cây ngô 8.548,8 ha, giảm 3,2%; cây khoai lang 3.826,8 ha, giảm 5,4%; cây sắn 20.113,9 ha, tăng 0,6%; cây lạc 5.847,6 ha, giảm 3,8%; rau, đậu các loại 14.413,3 ha, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước.- Sản xuất vụ Đông Xuân: Nhờ sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự cố gắng của bà con nông dân trong việc sử dụng giống chất lượng cao, kịp thời phòng trừ sâu bệnh nên năng suất một số loại cây tăng cao so với cùng kỳ. Tuy nhiên do ảnh hưởng bất lợi của thời tiết cực đoan nên năng suất một số loại cây khác bị giảm trong đó giảm mạnh nhất là cây lúa. Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân thực hiện 85.472,3 ha, giảm 0,7% so với vụ Đông Xuân năm trước.Cây lúa: Diện tích lúa gieo trồng vụ Đông Xuân năm 2024 - 2025 thực hiện 55.500,8 ha, tăng 0,2%; năng suất lúa bình quân chung toàn tỉnh ước đạt 60,36 tạ/ha, giảm 4,9%. Ước tính sản lượng lúa toàn tỉnh đạt 333.961,3 tấn, giảm 4,8% so với vụ Đông Xuân năm trước.Diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô thực hiện 7.104,5 ha, giảm 2,6%; khoai lang 3.187,7 ha, giảm 3,9%; lạc 5.303,4 ha, giảm 3,3%; rau các loại 8.088,1 ha, giảm 0,5%; đậu các loại 966,4 ha, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước.Năng suất gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô đạt 52,44 tạ/ha, tăng 10,0%; khoai lang 83,09 tạ/ha, tăng 2,9%; lạc đạt 23,18 tạ/ha, tăng 5,8%; rau các loại 111,75 tạ/ha, tăng 1,4%; đậu, đỗ các loại 11,36 tạ/ha tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ngô, lạc tăng mạnh chủ yếu do năm 2024 bị sâu bệnh nặng nên năng suất giảm sâu năm nay ít bị sâu bệnh, thu hoạch trước đợt mưa lớn giữa tháng 5 nên không bị ảnh hưởng.Sản lượng gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô đạt 37.257,3 tấn, tăng 7,4%; khoai lang đạt 26.486,2 tấn, giảm 1,2%; lạc đạt 12.292,7 tấn, tăng 2,3%; rau các loại đạt 89.825,2 tấn, tăng 0,3%; đậu các loại đạt 1.097,8 tấn, giảm 0,8% so với vụ Đông Xuân năm trước. - Sản xuất vụ Hè Thu: Vụ Hè Thu được chỉ đạo triển khai đảm bảo đúng lịch thời vụ, các địa phương chú trọng xây dựng kế hoạch điều tiết, dự trữ nước đảm bảo phục vụ cho công tác tưới tiêu, nên cây lúa và các loại cây trồng chủ yếu sinh trưởng phát triển tốt. Tuy nhiên, đầu Vụ gặp mưa lớn, thời gian ngâm gốc lâu khiến lúa bị hỏng, một số nơi diện tích lúa tái sinh không để lại được và không thực hiện gieo mới nên diện tích lúa vụ Hè Thu năm nay giảm mạnh so với vụ Hè Thu năm trước. Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Hè Thu năm nay thực hiện 77.663,1 ha, giảm 0,8% so với vụ Hè Thu năm trước. Ước tính diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu vụ Hè Thu như sau:+ Cây lúa: Diện tích lúa gieo trồng vụ Hè Thu năm 2025 thực hiện 46.461,5 ha, giảm 0,9%. Năng suất lúa bình quân chung toàn tỉnh ước đạt 48,03 tạ/ha, giảm 6,8%. Ước tính sản lượng lúa toàn tỉnh đạt 223.157,9 tấn, giảm 7,6% so với vụ Hè Thu năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng của mưa lớn đầu vụ lúa tái sinh tỷ lệ ra nhánh thấp năng suất giảm mạnh, một số địa phương lúa gieo cấy bị sâu bệnh gây hại.+ Các loại cây trồng khác:Diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô thực hiện 1.444,3 ha, giảm 6,0%; khoai lang 639,1 ha, giảm 12,2%; sắn 20.113,9 ha, tăng 0,1%; lạc 544,2 ha, giảm 8,9%; rau, đậu các loại 5.373,3 ha, giảm 0,7% so với vụ Hè Thu năm trước.Năng suất gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô đạt 34,58 tạ/ha, tăng 1,3%; khoai lang đạt 65,21 tạ/ha, tăng 0,1%; sắn đạt 163,64 tạ/ha, tăng 0,1%; lạc đạt 19,27 tạ/ha, tăng 1,3%; rau các loại đạt 100,01 tạ/ha, giảm 0,9%; đậu các loại đạt 10,41 tạ/ha, tăng 3,2% so với vụ Hè Thu năm trước.Sản lượng gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô đạt 4.994 tấn, giảm 4,7%; khoai lang đạt 4.167,5 tấn, giảm 12,1%; sắn đạt 329.144,1 tấn, tăng 0,2%; lạc đạt 1.048,5 tấn, giảm 7,8%; rau các loại đạt 36.402,6 tấn, giảm 0,9%; đậu các loại đạt 1.804,4 tấn, tăng 0,9% so với vụ Hè Thu năm trước. - Sản xuất vụ Mùa Ước tính diện tích gieo trồng lúa vụ Mùa năm 2025 toàn tỉnh thực hiện 1.556,8 ha, giảm 7,0% so với vụ Mùa năm trước. Diện tích lúa rẫy giảm so với năm trước do năng suất thấp, thiếu đất, chuyển đổi cây trồng. Việc trồng lúa rẫy ngày càng thu hẹp, nhiều nơi chỉ gieo cấy mang tính phong tục để lưu giữ nguồn giống truyền thống. Một số hộ dân có đất bạc màu đã chuyển sang trồng các loại cây khác như chuối, cao su hoặc tham gia trồng rừng tập trung. Do hiệu quả kinh tế thấp và điều kiện canh tác khó khăn, ngày càng nhiều diện tích lúa rẫy bị bỏ hoang, khiến diện tích gieo trồng loại cây này giảm liên tục qua các năm và không còn ổn định như trước. - Sản xuất cây lâu nămTình hình sản xuất cây lâu năm 9 tháng đầu năm 2025 tương đối ổn định, một số cây trồng vẫn duy trì phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cao, tuy nhiên một số cây trồng giảm do người dân phá bỏ những diện tích cây trồng già cỗi, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế thấp; một số diện tích giảm do Nhà nước thu hồi để phát triển hạ tầng giao thông. Ước tính đến cuối tháng 9, diện tích cây lâu năm thực hiện 47.856,7 ha, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây cao su: Diện tích 30.350,5 ha, giảm 0,3%; sản lượng 24.073,5 tấn, tăng 3,6%; cây hồ tiêu: Diện tích 3.152,6 ha, tăng 0,9%; sản lượng 3.222,0 tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước.* Chăn nuôiSản xuất chăn nuôi 9 tháng năm 2025 xảy ra nhiều biến động. Trong 6 tháng đầu năm chăn nuôi tăng trưởng khá, số lượng đầu con đa số đều tăng so với cùng kỳ, sản lượng các loại gia súc, gia cầm cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và thị trường. Tuy nhiên từ cuối quý II và đặc biệt là quý III, dịch tả lợn châu Phi xuất hiện và diễn biến phức tạp lây lan nhanh số lượng lợn bị chết nhiều làm cho số lượng đàn và sản lượng lợn quý III giảm mạnh kéo theo sản lượng lợn xuất chuồng 9 tháng cũng giảm theo.Số lượng đàn ước tính đến ngày 30/9/2025: Đàn trâu 49.540 con, giảm 3,6%; đàn bò 152.755 con, tăng 1,1%; đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) 441.595 con, giảm 15,1%; đàn gia cầm 9.856 ngàn con, tăng 2,8%; riêng đàn gà 8.022 ngàn con, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý III năm 2025 đạt 37.023,1 tấn, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 690,0 tấn, tăng 1,8%; thịt bò 3.600,0 tấn, tăng 13,6%; thịt lợn 18.834,8 tấn, giảm 13,3%; thịt gia cầm 13.571,3 tấn, tăng 6,7% (trong đó: Thịt gà 10.095,1 tấn, tăng 7,6%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng quý III ước đạt 53.698,1 nghìn quả, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9 tháng năm 2025 đạt 115.827,9 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 1.973,0 tấn, giảm 1,8%; thịt bò 9.732,7 tấn, tăng 8,0%; thịt lợn 66.761,6 tấn, giảm 0,3%; thịt gia cầm 37.033,6 tấn, tăng 4,6% (trong đó: Thịt gà 27.962,3 tấn, tăng 5,3%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng 9 tháng năm 2025 đạt 149.992,8 nghìn quả, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Do Công ty TNHH Chăn nuôi Hòa Phát Quảng Bình xuất bán nhiều nên sản lượng bò tăng cao, mặt khác dịch bệnh ở lợn bùng phát để đáp ứng nhu cầu thực phẩm người dân đã mở rộng quy mô và gia tăng xuất bán đàn gia cầm.Để phát triển chăn nuôi bền vững và an toàn dịch bệnh, các cấp các ngành cần có nhiều giải pháp hơn nữa nhằm tăng cường công tác quản lý; xây dựng kế hoạch tái đàn, chăn nuôi theo tín hiệu thị trường, tránh tình trạng cung vượt cầu khiến giá giảm, ảnh hưởng đến lợi ích người nông dân; tăng cường công tác kiểm dịch và tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi, tập trung dập dịch triệt để ở lợn và bò.Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm:- Bệnh Dịch tả lợn châu Phi: Lũy kế đến ngày 23/9/2025, dịch bệnh đã xảy ra tại 9.572 hộ/639 thôn/64 xã, làm 78.561 con lợn buộc tiêu hủy với tổng trọng lượng 4.782.350 kg. Hiện có 49/64 xã, phường có dịch chưa qua 21 ngày và 15/64 xã đã qua 21 ngày.Bệnh Viêm da nổi cục trên trâu bò: Lũy kế đến ngày 23/9/2025, có 05 con bò/04 hộ/2 thôn mắc bệnh, trong đó có 03 con bò chết với trọng lượng 430 kg.b) Lâm nghiệpSản xuất ngành lâm nghiệp 9 tháng năm 2025 nhìn chung ổn định. Hoạt động trồng rừng vẫn được triển khai, công tác chăm sóc, bảo vệ, phục hồi rừng được triển khai đúng kế hoạch.Trong quý III, thời tiết nắng nóng kéo dài không thuận lợi cho việc trồng rừng nên diện tích rừng trồng mới tăng không đáng kể so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 6.714,4 ha, tăng 1,9%; lũy kế 9 tháng ước đạt 15.297,7 ha, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng quý III đạt 597.739,0 m3, tăng 8,3%; luỹ kế 9 tháng đạt 1.704.027,0 m3, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác gỗ tăng do diện tích rừng trồng của các hộ dân, doanh nghiệp đã đến kỳ khai thác, đồng thời nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu cho các nhà máy trong và ngoài tỉnh, cũng như phục vụ cho xây dựng và sản xuất đồ mộc tiếp tục tăng.Ước tính sản lượng củi khai thác quý III đạt 190.767,0 ste, giảm 2,1%; luỹ kế 9 tháng đạt 471.835,0 ste, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi giảm do người dân chuyển sang sử dụng bếp gas và bếp điện. Bên cạnh đó, trước đây củi còn được tiêu thụ tại các vùng đồng bằng, nhưng hiện nay nhu cầu sử dụng tại các khu vực này giảm, dẫn đến việc khai thác và sử dụng củi làm chất đốt cũng bị hạn chế.Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 9,5 ha; 4 vụ vi phạm rừng và diện tích rừng bị phá 0,8 ha.Công tác bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, triển khai kịp thời công tác tuyên truyền về ý thức bảo vệ rừng cho người dân vùng có rừng; tổ chức tập huấn công tác phòng chống, cháy rừng cho các chủ rừng; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát phá rừng trái phép.c) Thủy sảnSản lượng thủy sản quý III đạt mức cao nhất trong ba quý và tăng so với cùng kỳ năm trước. Đối với khai thác, sản lượng tăng nhờ thời tiết thuận lợi, đây cũng là mùa thu hoạch nhiều loại hải sản biển. Đối với nuôi trồng, người dân tranh thủ thu hoạch sớm trước mùa mưa bão nhưng do dịch bệnh xảy ra tại một số địa phương và thiệt hại từ cơn bão tháng 6 nên sản lượng giảm. Nhìn chung, tổng sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ sản lượng khai thác.Ước tính sản lượng thuỷ sản quý III/2025 đạt 48.379,4 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 38.824,7 tấn, tăng 3,9%; tôm đạt 4.573,3 tấn, giảm 0,1%; thủy sản khác đạt 4.981,4 tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thuỷ sản 9 tháng ước đạt 114.250,6 tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 92.499,2 tấn, tăng 2,0%; tôm đạt 8.247,6 tấn, giảm 1,4%; thủy sản khác đạt 13.503,8 tấn, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước.- Khai thácQuý III năm 2025 thời tiết thuận lợi, các chủ tàu tiếp tục bám biển vươn khơi đánh bắt, số ngày hoạt động nhiều hơn nên sản lượng khai thác tăng so với các quý trước và cùng kỳ năm trước.Ước tính sản lượng thuỷ sản quý III/2025 đạt 38.450,4 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 33.001,6 tấn, tăng 4,6%; tôm đạt 722,7 tấn, tăng 1,5%; thủy sản khác đạt 4.726,1 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng khai thác thủy sản 9 tháng ước đạt 95.843,4 tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 81.218,7 tấn, tăng 2,5%; tôm đạt 1.653,5 tấn, tăng 0,7%; thủy sản khác đạt 12.971,2 tấn, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm trước.Công tác kiểm tra đăng ký, đăng kiểm tàu cá và các điều kiện đảm bảo an toàn phương tiện được chú trọng, các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ được ban hành. Từ đó giúp cho hoạt động khai thác đánh bắt thuỷ hải sản trên biển đạt hiểu quả kinh tế cao đảm bảo đúng theo quy định.- Nuôi trồngNhững tháng đầu năm, mưa rét kéo dài khiến người dân hạn chế thả giống và phải thả muộn hơn so với lịch thời vụ, dẫn đến sản lượng thu hoạch chưa cao. Bên cạnh đó, tại một số vùng, dịch bệnh trên tôm diễn biến phức tạp gây thiệt hại diện tích nuôi; người dân gặp khó khăn về vốn đầu tư, chi phí thức ăn duy trì ở mức cao nên quy mô thả nuôi giảm. Ngoài ra, một số tháng trong năm thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng gay gắt xen kẽ mưa giông đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của các đối tượng nuôi, làm năng suất và sản lượng giảm so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch quý III/2025 ước đạt 9.929,0 tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 5.823,1 tấn, tăng 0,1%; tôm đạt 3.850,6 tấn, giảm 0,4%; thủy sản khác đạt 255,3 tấn, giảm 8,6% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 9 tháng ước đạt 18.407,2 tấn, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 11.280,5 tấn, giảm 1,6%; tôm đạt 6.594,1 tấn, giảm 2,0%; thủy sản khác đạt 532,6 tấn, giảm 7,9% so với cùng kỳ năm trước.Hiện nay, lĩnh vực nuôi trồng cần tăng cường công tác tập huấn kỹ thuật, kiểm tra và hướng dẫn các hộ nuôi về lựa chọn giống, thức ăn, xử lý môi trường, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm tại các vùng nuôi tập trung, đảm bảo đầu ra ổn định và nâng cao thu nhập cho người nuôi.3. Công nghiệpTình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quý III và 9 tháng năm 2025 tiếp tục đạt được kết quả tích cực, nhờ duy trì đà tăng trưởng từ các tháng đầu năm. Bên cạnh đó, sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, cùng với sự hỗ trợ tích cực từ các cấp, các ngành đã giúp nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, duy trì hoạt động sản xuất ổn định, chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh và đảm bảo đơn hàng dài hạn. Một số ngành như: sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; in, sao chép bản in các loại; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp trong quý III và 9 tháng năm 2025.Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 9 năm 2025 ước tính tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 9,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,4%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước.Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý III năm 2025 ước tính tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 11,3%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,8%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước.Ước tính 9 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 13,3%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,0%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước.Trong ngành công nghiệp cấp 2, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: In, sao chép bản ghi các loại tăng 14,4%; khai khoáng khác tăng 14,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 13,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 10,3%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 9,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,7%;...Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất đồ uống giảm 1,2%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan giảm 8,1%; khai thác quặng kim loại giảm 47,1% (ngành khai thác quặng kim loại giảm mạnh chủ yếu do một số mỏ khai thác thời gian dài bắt đầu cạn kiệt, hàm lượng kim loại trong quặng thấp, khiến chi phí khai thác tăng cao không còn hiệu quả kinh tế nên doanh nghiệp tạm dừng khai thác; bên cạnh đó, một số doanh nghiệp tồn kho cao, chưa tiêu thụ hết nên giảm sản lượng khai thác).Sản lượng sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 9 tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước như: đá xây dựng đạt 2.103.163 m3, tăng 8,6%; cao lanh đạt 87.747 tấn, tăng 64,9%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 27.751 tấn, tăng 6,4%; tinh bột sắn đạt 68.537 tấn, tăng 11,0%; áo sơ mi đạt 10.233 nghìn cái, tăng 17,0%; dăm gỗ đạt 696.220 tấn, tăng 16,4%; ván ép từ gỗ đạt 223.517 m3, tăng 14,8%; viên gỗ đạt 35.876 tấn, tăng 104,1%; Clinker thành phẩm đạt 2.163.573 tấn, tăng 10,2%; thủy điện đạt 544 triệu kWh, tăng 6,3%; điện gió đạt 2.154 triệu kWh, tăng 11,4%;... Một số sản phẩm sản xuất 9 tháng năm 2025 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Quặng ilmenite đạt 9.313 tấn, giảm 45,1%; Quặng titan đạt 15.366 tấn, giảm 59,3%; bia đóng chai đạt 4.601 nghìn lít, giảm 4,3%; bia đóng lon đạt 27.002 nghìn lít, giảm 7,3%; nước khoáng có ga đạt 1.387 nghìn lít, giảm 13,8%; xi măng đạt 1.203.032 tấn, giảm 0,9%; điện mặt trời đạt 239 triệu kWh, giảm 3,4%; cao su tổng hợp đạt 955 tấn, giảm 24,9%;...4. Hoạt động của doanh nghiệpa) Tình hình đăng ký của doanh nghiệpTheo số liệu báo cáo đăng ký kinh doanh Quý III (Tính từ 15/6/2025 đến 14/9/2025), toàn tỉnh tiếp nhận 3.360 hồ sơ (2.361 hồ sơ tiếp nhận trực tiếp và 999 hồ sơ tiếp nhận trực tuyến qua Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp); trong đó có 442 doanh nghiệp và 186 đơn vị trực thuộc đăng ký thành lập mới, với tổng vốn đăng ký hơn 3.064,34 tỷ đồng, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt gần 6,93 tỷ đồng;- Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 181 doanh nghiệp, số doanh nghiệp hoạt động trở lại là 100 doanh nghiệp. Cộng dồn 9 tháng năm 2025 (Tính từ 15/12/2024 đến 14/9/2025), toàn tỉnh tiếp nhận 7.881 hồ sơ (6.529 hồ sơ tiếp nhận trực tiếp và 1.352 hồ sơ tiếp nhận trực tuyến qua Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp); trong đó có 1.044 doanh nghiệp và 559 đơn vị trực thuộc đăng ký thành lập mới, với tổng vốn đăng ký gần 9.264,267 tỷ đồng, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt gần 6,8 tỷ đồng;- Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn toàn tỉnh đến thời điểm hiện nay là 9.899 doanh nghiệp;- Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 847 doanh nghiệp, số doanh nghiệp hoạt động trở lại là 352 doanh nghiệp.- Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tự nguyện, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh là 168 doanh nghiệp; số doanh nghiệp thông báo sẽ giải thể 252 doanh nghiệp.b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệpDựa trên kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của một số doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn trong quý III năm 2025 cho thấy có 81,4% số doanh nghiệp nhận định rằng hoạt động sản xuất kinh doanh quý III năm 2025 ổn định và tốt hơn so với quý II năm 2025 (trong đó, có 21,7% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và có 59,7% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định) và có 18,6% doanh nghiệp cho rằng hoạt động sản xuất kinh doanh quý III năm 2025 khó khăn hơn so với quý II năm 2025. Dự báo quý IV năm 2025, có 79,8% doanh nghiệp dự báo hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý IV tốt hơn và giữ ổn định so với quý III năm 2025 (trong đó, có 24,0% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và có 55,8% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định), chỉ có 20,2% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh sẽ còn tiếp tục khó khăn hơn so với quý III năm 2025.5. Vốn đầu tưTrong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức, tỉnh Quảng Trị xác định giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngay từ đầu năm 2025, nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt đã được triển khai nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, kịp thời xử lý những tồn tại, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án. Trong quý III, nhiều công trình, dự án lớn tiếp tục được triển khai thực hiện như: Dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch, dự án Nhà ga hành khách T2 và mở rộng sân đỗ máy bay - Cảng hàng không Đồng Hới, dự án Khu công nghiệp Cam Liên, dự án Cảng tổng hợp quốc tế Hòn La, dự án Đường ven biển và Cầu Nhật Lệ 3, dự án Khu công nghiệp Quảng Trị, dự án Cảng hàng không Quảng Trị, dự án Khu bến cảng Mỹ Thủy, dự án Đường ven biển kết nối Hành lang kinh tế Đông Tây - giai đoạn 1, Đường tránh phía Đông phường Đông Hà;… Bên cạnh đó, một số công trình, dự án lớn đã được khởi công như: Dự án Khu nghỉ dưỡng Phú Ninh, dự án Nhà ở xã hội Bảo Ninh 1, dự án Khu công nghiệp Tây Bắc Hồ Xá, dự án Trang trại chăn nuôi lợn công nghệ cao Gia Hân, dự án Khu vực 1 tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam,…Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh: Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh quý III năm 2025 ước đạt 20.300,2 tỷ đồng, tăng 27,1% so với quý trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 9 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh đạt 48.267,4 tỷ đồng, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy xu hướng phục hồi và duy trì tăng trưởng ổn định trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, hạ tầng và sản xuất. Trong đó: vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước đạt 19.133,5 tỷ đồng, tăng 51,1%; khu vực ngoài nhà nước đạt 28.945,2 tỷ đồng, tăng 5,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 188,7 tỷ đồng, giảm 42,8% so với cùng kỳ năm trước.Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý tháng 9 năm 2025 ước đạt 1.286,9 tỷ đồng, tăng 10,8% so với tháng trước và tăng 85,0% so với cùng kỳ năm trước; Quý III năm 2025 ước đạt 3.450,8 tỷ đồng, tăng 67,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý ước đạt 6.636,9 tỷ đồng, tăng 30,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 6.326,7 tỷ đồng, tăng 36,1%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 310,2 tỷ đồng, giảm 29,3% so với cùng kỳ năm trước.6. Thương mại, dịch vụa) Tổng mức bán lẻ hàng hoáHoạt động thương mại tháng 9/2025 tiếp tục tăng trưởng, lượng cung hàng hóa trên thị trường dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 9/2025 ước tính tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu các nhóm hàng hóa đa phần tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ, cụ thể:Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 14,0% so với cùng kỳ; nhóm may mặc ước tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,3% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 7,6% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 19,4% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác ước tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ; nhóm hàng hóa khác ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 5,7% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, nhóm hàng hóa có doanh thu giảm so với tháng trước nhưng tăng so với cùng kỳ, đó là: Nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 8,0% so với cùng kỳ; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 2,2% so với tháng trước và tăng 8,0% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ; nhóm đá quý, kim loại quý giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 16,9% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa quý III/2025 ước tính tăng 2,1% so với quý trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ đó là: Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 13,5%, đóng góp tăng cao nhất 5,0 điểm phần trăm; nhóm may mặc ước tăng 14,1%, đóng góp tăng 1,3 điểm phần trăm; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 12,2%, đóng góp tăng 1,2 điểm phần trăm; nhóm xăng dầu các loại ước tăng 14,9%, đóng góp tăng 1,0 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của cả nhóm..Tính chung 9 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 12,2% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm ngành đều tăng cao so với cùng kỳ. Chiếm tỷ trọng lớn và tăng cao là nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 13,5% so với cùng kỳ, đóng góp tăng cao nhất 5,1 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa.b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hànhDịp lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2025), Quảng Trị đã đón lượng lớn du khách tới tham quan, lưu trú. Với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch được tổ chức an toàn, hiệu quả, thu hút số lượng Nhân dân và khách du lịch tham gia, đặc biệt là Lễ hội đua, bơi thuyền truyền thống trên sông Kiến Giang; chương trình nghệ thuật “Quảng Trị - Hội tụ và tỏa sáng”; chương trình nghệ thuật - chính luận đặc biệt “Lời tri ân - Dòng sông hoa lửa”; chương trình bắn pháo hoa tầm cao tại 2 điểm: Quảng trường Hồ Chí Minh, phường Đồng Hới; Quảng trường Trung tâm Văn hóa và Điện ảnh tỉnh, cơ sở 2, phường Nam Đông Hà và một điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại Khu đô thị Regal Legend Bảo Ninh, phường Đồng Hới. Cùng với đó, khách du lịch đã đến các điểm di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn như: Khu mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đền tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ và hang Tám Thanh niên xung phong, Di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị,… góp phần làm hoạt động du lịch 9 tháng năm 2025 tăng trưởng mạnh. Vì vậy, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 9 tháng năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ.- Dịch vụ lưu trú:Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 9/2025 ước giảm 12,6% so với tháng trước và tăng 22,4% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 14,3% so với quý trước và tăng 22,4% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 18,4% so với cùng kỳ.Số lượt khách lưu trú tháng 9/2025 ước giảm 11,6% so với tháng trước và tăng 22,2% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 24,1% so với quý trước và tăng 21,6% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 14,1% so với cùng kỳ.Ngày khách tháng 9/2025 ước giảm 10,6% so với tháng trước và tăng 22,4% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 49,4% so với quý trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 14,2% so với cùng kỳ.- Dịch vụ ăn uống:Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 9/2025 ước giảm 4,8% so với tháng trước và tăng 19,6% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 11,0% so với quý trước và tăng 18,8% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 16,0% so với cùng kỳ.- Du lịch lữ hành:Doanh thu hoạt động lữ hành tháng 9/2025 ước giảm 21,0% so với tháng trước và tăng 17,0% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước giảm 11,8% so với quý trước và tăng 13,0% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 22,7% so với cùng kỳ.Số lượt khách du lịch lữ hành tháng 9/2025 ước giảm 21,2% so với tháng trước và tăng 16,4% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 7,3% so với quý trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 12,5% so với cùng kỳ.Số ngày khách du lịch lữ hành tháng 9/2025 ước giảm 21,2% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 7,1% so với quý trước và tăng 11,4% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 11,6% so với cùng kỳ.c) Các ngành kinh doanh dịch vụ Chín tháng năm 2025, sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch đã thúc đẩy các ngành dịch vụ hỗ trợ phát triển theo như: giao thông vận tải; bưu chính viễn thông; bảo hiểm; dịch vụ tài chính; dịch vụ lưu trú và ăn uống. Ngành Du lịch phát triển cũng đem lại một thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn, cùng với đó là các dịch vụ vui chơi và giải trí, spa, nhà hàng, quán bar,… tạo ra hàng triệu việc làm cho nhiều lao động, do đó doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ 9 tháng năm 2025 tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ.Ước tính doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ tháng 9/2025 giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 17,0% so với cùng kỳ. Các nhóm ngành dịch vụ tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 28,0% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo ước tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 4,7% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 10,5% so với cùng kỳ. Các nhóm ngành dịch vụ giảm so với tháng trước nhưng tăng so với cùng kỳ, cụ thể: nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước giảm 3,5% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 40,5% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ khác ước giảm 0,01% so với tháng trước và tăng 14,2% so với cùng kỳ.Doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ quý III/2025 ước tăng 6,6% so với quý trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ.Chín tháng năm 2025, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ tăng 13,7% so với cùng kỳ. Trong đó, các nhóm dịch vụ đều tăng cao, cụ thể: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 19,2% đóng góp tăng 2,6 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 20,2% đóng góp tăng 2,8 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 1,2% đóng góp tăng 2,8 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ khác tăng 14,4% đóng góp tăng 3,0 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của nhóm các ngành kinh doanh dịch vụ.d) Hoạt động vận tải Bước sang đầu tháng 9/2025, có kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 02/9 kéo dài 4 ngày nên nhu cầu đi lại, tham quan, du lịch của người dân tăng so với tháng trước, đặc biệt tỉnh Quảng Trị có Lễ hội đua, bơi thuyền truyền thống trên sông Kiến Giang đã thu hút đông đảo người dân từ cả nước cũng như con em trong tỉnh về quê tham gia. Mặt khác, lịch nhập học của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp cũng bắt đầu, làm cho nhu cầu đi lại tăng cao nên hoạt động vận tải hành khách tăng so với tháng trước. Bên cạnh đó, để hoàn thành tiến độ các công trình trọng điểm của tỉnh, các khu đô thị,… trước mùa mưa bão nên nhu cầu vận chuyển nguyên, vật liệu được đẩy mạnh, vì vậy hoạt động vận tải hàng hóa tăng so với tháng trước.Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 9/2025 ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 15,2% so với cùng kỳ. Trong quý III/2025, hoạt động vận tải hành khách cũng như vận tải hàng hoá đạt kết quả cao nhất, làm cho doanh thu vận tải tăng cao so với các quý trước. Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát quý III/2025 ước tăng 4,2% so với quý trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ. Nhìn chung 9 tháng năm 2025, hoạt động vận tải tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, cả về vận tải hành khách và vận tải hàng hóa. Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát 9 tháng năm 2025 tăng 13,1% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách tăng 11,9%; vận tải hàng hóa tăng 13,8%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước.- Vận tải hành khách: Tháng 9/2025, số lượt hành khách vận chuyển ước tính tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 16,7% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước tính tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025, số lượt hành khách vận chuyển ước tăng 7,9% so với quý trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 8,7% so với quý trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, số lượt hành khách vận chuyển tăng 11,9% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Tháng 9/2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tăng 3,6% so với quý trước và tăng 15,9% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 0,9% so với quý trước và tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung 9 tháng năm 2025, khối lượng hàng hóa vận tăng 13,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước.Nhìn chung, hoạt động vận tải 9 tháng năm 2025 tăng khá cao. Những tháng cuối năm, mặc dù chịu tác động bất lợi của thời tiết phức tạp như: mưa, bão, lũ, ngập lụt xuất hiện nhiều, nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, sự nỗ lực của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, ngành Vận tải sẽ tiếp tục duy trì và phát triển ổn định. Bên cạnh đó, hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch cũng đã đẩy mạnh và làm tốt công tác quảng bá du lịch địa phương thông qua các nền tảng số với nội dung phong phú; hoạt động xây dựng được đẩy mạnh với nhiều công trình, dự án đầu tư thực hiện trong thời gian tới sẽ thúc đẩy hoạt động vận tải hàng hóa tăng. Do đó doanh thu toàn ngành vận tải hy vọng sẽ đạt kết quả cao so với năm trước.đ) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)Tình hình giá tiêu dùng tháng 9/2025 có nhiều biến động về thị trường giá cả. Ngoài mặt hàng gạo giảm giá do vào mùa thu hoạch, còn lại một số mặt hàng thực phẩm tăng giá như: Thịt lợn, thịt bò và một số mặt hàng thủy hải sản; giá một số mặt hàng thiết yếu cũng tăng giá như: giá dầu hỏa, xăng, dầu diesel, điện, nước,… các yếu tố trên đã tác động đến Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Quảng Trị tháng 9 năm 2025 tăng 0,32% so với tháng trước, trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,41%, khu vực nông thôn tăng 0,27%; tăng 0,90% so với tháng 12 năm trước; tăng 3,56% so với tháng 9 năm trước; tính chung 9 tháng năm 2025 CPI tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 9 nhóm hàng tăng giá, 2 nhóm hàng ổn định. Có 9 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước đó là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%, tác động làm CPI chung tăng 0,10 điểm phần trăm; do tháng này nguồn cung giảm, chi phí đầu vào tăng nên giá các mặt hàng thiết yếu tăng, cụ thể như: thịt lợn, thịt bò, cá, tôm hải sản giá bắt đầu tăng; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,96%, tác động đến CPI chung tăng 0,07 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,24%, tác động đến CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm; nguyên nhân chính do nhu cầu sửa chữa nhà ở tăng cao đã làm chỉ số giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,26% so với tháng trước; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%, nhóm này đóng góp tăng 0,01 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 0,54%, tăng chủ yếu do giá xăng dầu tăng, giá nhiên liệu tăng 1,86%, trong đó: Giá xăng tăng 1,97%; giá dầu diesel tăng 0,94%,nhóm này đóng góp tăng 0,05 điểm phần trăm; nhóm giáo dục tăng 0,69%, do nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập cho học sinh chuẩn bị cho năm học mới tăng và học phí một số trường ngoài công lập tăng nên nhóm này đóng góp tăng 0,05 điểm phần trăm; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,05%. Có 2 nhóm hàng hóa ổn định đó là: nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch.- Chỉ số giá vàng 99,99%Giá vàng bình quân tháng 9/2025 là 11,844 triệu đồng/chỉ vàng 9999, tăng 6,22% so với tháng trước, tăng 223,21% so với kỳ gốc 2019, tăng 57,11% so với cùng kỳ, bình quân 9 tháng tăng 40,20% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ (USD) Giá đô la Mỹ (USD) bình quân tháng 9/2025 là 26.300 VNĐ/USD, tăng 0,54% so với tháng trước, tăng 13,81% so với kỳ gốc 2019, tăng 6,94% so với cùng kỳ, bình quân 9 tháng tăng 3,95% so với cùng kỳ.7. Tài chính, tín dụnga) Tài chínhUBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt triển khai các nhiệm vụ tài chính ngân sách năm 2025, yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện đồng bộ giải pháp, biện pháp quản lý thu, chống thất thu ngân sách trên tất cả các lĩnh vực, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời khoản thu phát sinh theo quy định. Tổng thu NSNN 9 tháng năm 2025 ước tính đạt 10.449,4 tỷ đồng, đạt 93,7% dự toán Trung ương và đạt 87,8% dự toán địa phương giao. Trong đó, thu cân đối ngân sách đạt 7.947,5 tỷ đồng, đạt 92,4% dự toán Trung ương và đạt 85,1% dự toán địa phương giao; Thu từ xuất nhập khẩu đạt 2.221,9 tỷ, đạt 87,1% dự toán Trung ương và địa phương giao.Việc quản lý, điều hành chi ngân sách đảm bảo chặt chẽ; theo đúng dự toán được duyệt, tiết kiệm, hiệu quả, đúng chế độ quy định; quản lý tạm ứng vốn đầu tư nguồn NSNN được tăng cường. Tổng chi NSNN trên địa bàn 9 tháng năm 2025 ước tính đạt 23.344 tỷ đồng, đạt 83,5% dự toán Trung ương và đạt 79,5% dự toán địa phương giao.b) Tín dụngCác tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp điều tiết tỷ giá, lãi suất theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu vốn, giữ vững ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, thị trường vàng. Ước tính đến 30/9/2025, tổng số vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 132.030 tỷ đồng, tăng 14,5% so với đầu năm, tăng 1,5% so với tháng trước; tổng dư nợ cho vay đạt 161.426 tỷ đồng, tăng 8,5% so với đầu năm, tăng 0,5% so với tháng trước.II. XÃ HỘI1. Y tếTriển khai thực hiện các quy định của Nghị định số 163/2025/NĐ-CP: Các cấp, ngành chuyên môn đã hướng dẫn các cơ sở kinh doanh dược triển khai thực hiện Thông tư số 11/2025/TT-BYT về đánh giá và duy trì Thực hành tốt tại cơ sở bán lẻ thuốc, cơ sở phân phối thuốc; đồng thời hướng dẫn về giá bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc trong khuôn viên cơ sở khám, chữa bệnh. Trong quý III, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch tháng cao điểm triển khai tích hợp thẻ BHYT lên ứng dụng VNeID nhằm tăng tỷ lệ Sổ sức khỏe điện tử của người dân trên địa bàn tỉnh. Tính đến nay, tỷ lệ người dân có Sổ sức khỏe tích hợp trên VNeID đạt 17,3%.- Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong quý III năm 2025 (từ ngày 15/7/2025 đến ngày 14/9/2025), toàn tỉnh ghi nhận 01 vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra tại phường Đồng Hới, làm 28 người mắc, không có trường hợp tử vong. Các biện pháp chuyên môn đã được triển khai kịp thời phục vụ công tác điều tra và xử lý vụ việc.Trong 9 tháng năm 2025, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm tại xã Dân Hóa (huyện Minh Hóa cũ) và tại Phường Đồng Hới làm 36 người mắc, 17 người được điều trị tại các cơ sở y tế, không có trường hợp tử vong.- Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong quý III năm 2025, toàn tỉnh ghi nhận 01 trường hợp nhiễm mới HIV, không có trường hợp tử vong. Tính chung 9 tháng năm 2025, toàn tỉnh phát hiện 17 ca nhiễm mới, 05 trường hợp tử vong do HIV/AIDS. Tính đến thời điểm báo cáo, toàn tỉnh có 600 người nhiễm HIV còn sống, tổng số bệnh nhân tử vong do AIDS là 270 người.- Tình hình bệnh truyền nhiễm: Trong 9 tháng năm 2025, tình hình dịch bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nhìn chung có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước, nổi bật là các bệnh tiêu chảy, lỵ trực trùng, viêm gan vi rút, sốt xuất huyết và ho gà. Tuy nhiên, một số bệnh vẫn có xu hướng gia tăng như cúm, tay - chân - miệng, thủy đậu, COVID -19 và sốt rét, cùng với việc xuất hiện ca viêm não Nhật Bản. Đáng chú ý, có 01 trường hợp tử vong do ho gà, cho thấy nguy cơ dịch bệnh vẫn tiềm ẩn và có khả năng bùng phát trở lại.Trước tình hình đó, ngành Y tế đã và đang tiếp tục tăng cường công tác giám sát, chủ động phòng chống dịch và đẩy mạnh tiêm chủng mở rộng, nhằm hạn chế tối đa lây lan và tử vong do dịch bệnh. Theo báo cáo Sở Y tế, trong quý III năm 2025, trên địa bàn toàn tỉnh có 355 ca mắc bệnh tiêu chảy, giảm 38,26% (-220 ca) so với cùng kỳ năm trước; 17 ca mắc bệnh lỵ trực trùng giảm 26,08% (-06 ca); 15 ca viêm gan vi rút, giảm 37,50% (-09 ca); 16 ca mắc bệnh quai bị, giảm 23,08% (-03 ca); 1.676 ca mắc bệnh cúm, giảm 16,99% (-343 ca); 25 ca tay - chân - miệng, giảm 16,67% (-05 ca); 132 ca mắc thủy đậu, tăng 428% (+107 ca); 37 ca COVID -19, tăng 270% (+27 ca); 01 ca mắc ho gà, giảm 80% (-04 ca); 01 ca mắc viêm não Nhật Bản, (+01 ca); 34 ca mắc sốt rét, tăng 17 lần (+32 ca); 398 ca mắc sốt xuất huyết, giảm 70,69% (-960 ca).Cộng dồn 9 tháng năm 2025 toàn tỉnh có 1.139 ca mắc bệnh tiêu chảy, giảm 42,21% (-832 ca) so với cùng kỳ năm trước; 56 ca mắc bệnh lỵ trực trùng giảm 50,88% (-58 ca); 34 ca viêm gan vi rút, giảm 55,84% (-43 ca); 45 ca mắc bệnh quai bị, tăng 28,57% (+10 ca); 7.304 ca mắc bệnh cúm, tăng 10,0% (+665 ca); 110 ca tay - chân - miệng, tăng 71,88% (+46 ca); 482 ca mắc thủy đậu, tăng 39,31% (+136 ca); 86 ca COVID-19, tăng 352% (+67 ca); 01 ca mắc ho gà, giảm 80% (-04 ca); 01 ca mắc viêm não Nhật Bản, (+01 ca). Đặc biệt, đã có 01 trường hợp tử vong do mắc ho gà.2. Giáo dục, đào tạoTrong quý III năm 2025, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội nghị tổng kết năm học 2024 - 2025 và triển khai nhiệm vụ năm học 2025 - 2026. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị đã ban hành Quyết định số 1019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2025, ban hành Khung kế hoạch thời gian năm học 2025-2026 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.Năm học 2025 - 2026 là năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030. Đây cũng là năm học cả nước triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ em từ 3 đến 5 tuổi.Với chủ đề “Kỷ cương - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển”, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị tập trung triển khai hiệu quả Chương trình Giáo dục phổ thông theo hướng bảo đảm tính khoa học, sư phạm; công bằng trong cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng cho người học; rà soát đội ngũ giáo viên hiện có, đề xuất bổ sung biên chế giáo viên giai đoạn 2026-2030; đồng thời tập trung chỉ đạo các hoạt động chuyên môn, nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn trên địa bàn tỉnh.3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thaoa) Hoạt động văn hóaTrong 9 tháng năm 2025, nhiều hoạt động văn hóa thiết thực, sôi nổi được tổ chức nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân và chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước, của tỉnh. Các hoạt động tập trung vào các sự kiện trọng đại như: Chào năm mới Ất Tỵ 2025; kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2025); kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025); kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945- 02/9/2025); chào mừng sáp nhập tỉnh Quảng Trị, hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ nhất nhiệm kỳ 2025 - 2030 cùng nhiều sự kiện quan trọng khác.Tổ chức thành công Lễ hội “Thống nhất non sông” năm 2025 nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) và 53 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị (01/5/1972 - 01/5/2025). Phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức thành công chương trình cầu truyền hình trực tiếp Kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025). Đặc biệt, tỉnh phối hợp với Ban Văn hóa - Giải trí (Đài Truyền hình Việt Nam) tổ chức thành công chương trình nghệ thuật cầu truyền hình trực tiếp với chủ đề “Khúc ca khải hoàn” nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 27/4/2025 tại Di tích Quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải.Tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt “Quảng Trị - Hội tụ và toả sáng” tại 02 điểm cầu: Quảng trường Hồ Chí Minh (phường Đồng Hới) và Quảng trường Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh (phường Nam Đông Hà), thu hút hơn 35.000 người đón xem trực tiếp; Tổ chức các hoạt động Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025) tại Thành phố Hà Nội. Từ ngày 28/8 đến ngày 15/9/2025, gian trưng bày của tỉnh Quảng Trị đã đón khoảng trên 112.000 lượt khách tham quan, tạo không khí sôi động và góp phần quảng bá hình ảnh địa phương.Trên địa bàn tỉnh, nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được tổ chức phục vụ rộng khắp, trong đó chú trọng phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và lực lượng vũ trang nhân dân trong dịp Tết Nguyên Đán và các ngày lễ lớn như chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); Tổ chức Tuần Văn hóa - Du lịch Đồng Hới năm 2025 với nhiều hoạt động hấp dẫn như: Chương trình “Âm nhạc đường phố”, lễ hội ẩm thực “Hương quê”, triển lãm sinh vật cảnh nghệ thuật - ảnh “Đồng Hới xưa và nay”, giải đua thuyền truyền thống thành phố Đồng Hới năm 2025 trên sông Nhật Lệ, liên hoan các câu lạc bộ, đội, nhóm nhảy và chương trình nghệ thuật. Đặc biệt là Tuần Du lịch Quảng Bình năm 2025 diễn ra từ ngày 23/5 – 30/5/2025 với nhiều sự kiện du lịch đặc sắc, nhiều hoạt động văn hóa nổi bật như: chương trình nghệ thuật “Quảng Bình - Đến là yêu”; chương trình bắn pháo hoa tầm thấp tại Khu đô thị Bảo Ninh 1 (Regal Legend) thành phố Đồng Hới; lễ hội ẩm thực (Food Festival Việt Nam) với khoảng 100 gian hàng gồm 50 - 55 gian hàng ẩm thực, 25 - 30 gian hàng OCOP.Tính đến ngày 31/8/2025: Tổ chức 407 đợt chiếu phim lưu động tại 02 huyện miền núi Hướng Hóa, Đakrông và 03 xã vùng khó khăn của huyện Vĩnh Linh, 16 xã thuộc các địa bàn huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa, Bố Trạch, Quảng Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy, thu hút trên 97.000 lượt người xem. Trong đó, phục vụ 20 buổi chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị, thực hiện 25 buổi chiếu phim tuyên truyền và giao lưu văn nghệ phục vụ bà con nhân dân tại các điểm vùng sâu, vùng xa. Ngoài ra, xây dựng chương trình văn nghệ và lồng ghép chiếu phim lưu động nhân kỷ niệm 80 năm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Hai đội chiếu bóng số 01, số 02 và đội chiếu bóng lưu động phục vụ chiếu phim tại các xã: A Dơi, Lìa, Tân Lập, Tà Rụt, Ba Lòng, Hướng Hiệp, Bến Quan, Dân Hóa, Tuyên Phú, Phong Nha, Trung Thuần, Trường Sơn với 88 buổi chiếu.b) Hoạt động thể dục, thể thao- Thể thao quần chúng: Trong 9 tháng năm 2025, phong trào thể dục thể thao (TDTT) quần chúng trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì và phát triển sâu rộng với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; tổ chức các hoạt động thể dục thể thao mừng Đảng, mừng xuân Ất Tỵ năm 2025; tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân và Tháng hoạt động thể dục thể thao cho mọi người năm 2025; tổ chức Giải Cầu lông, Bóng bàn gia đình tỉnh Quảng Bình lần thứ IV năm 2025; phối hợp với Mobifone Quảng Bình phát động nội dung chạy 10 km nam, nữ mở rộng; phối hợp tổ chức thành công giải Vô địch Karate tỉnh Quảng Trị mở rộng lần thứ I năm 2025; giải Cầu lông Công chức, viên chức, Lao động Công đoàn khối chính quyền; Hội thao các môn Cầu lông, Bóng bàn Liên đoàn Lao động; phối hợp với Liên đoàn Xe đạp - Mô tô thể thao Việt Nam tổ chức đón và tiễn Đoàn đua xe đạp toàn quốc Tranh cúp truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 37 năm 2025 “Non sông liền một dải - Niềm tin chiến thắng” đi qua địa phận tỉnh Quảng Trị và nhiều hoạt động khác. Tổ chức thành công Giải Marathon khám phá Quảng Bình "Quang Binh Discovery Marathon” lần thứ V năm 2025; Giải Cầu lông vô địch các nhóm tuổi tỉnh Quảng Trị mở rộng năm 2025; Giải vô địch Pickleball các Câu lạc bộ tỉnh Quảng Bình mở rộng năm 2025; Giải vô địch Cầu lông các Câu lạc bộ tỉnh Quảng Bình mở rộng năm 2025; Giải Bơi nhóm tuổi các Câu lạc bộ tỉnh Quảng Bình năm 2025; Giải chạy “Quang Tri International Marathon 2025” và giải thể thao 02 môn phối hợp bơi - chạy “Aqua Warriors Quang Tri 2025” tại phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị.Tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp và các môn thi đấu thuộc Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Quảng Trị, năm 2025 - 2026. Đến nay đã tổ chức các giải Cờ tướng, Cờ Vua, Đẩy gậy, Kéo co trong khuôn khổ Đại hội TDTT tỉnh 2025 - 2026.Tính đến ngày 31/8/2025, phong trào TDTT quần chúng trên địa bàn tỉnh đạt nhiều kết quả tích cực: Tỷ lệ % người dân tập luyện TDTT thường xuyên đạt 37,7%; Tỷ lệ % gia đình tập luyện TDTT đạt 29,1% tổng số hộ dân. Có 1.830 câu lạc bộ và điểm tập TDTT. Có 8 liên đoàn và hiệp hội thể thao cấp tỉnh, gồm: Liên đoàn Vovinam - Việt võ đạo; Liên đoàn Bóng bàn; Hội Golf; Liên đoàn Quần vợt; Liên đoàn Karate; Hội Võ thuật cổ truyền; Câu Lạc bộ Xe đạp thể thao tỉnh và Liên đoàn Cầu lông tỉnh.- Thể thao thành tích cao: Tiếp tục được quan tâm đầu tư và phát triển: Phối hợp với Báo Tiền Phong tổ chức thành công Giải Marathon và cự ly dài Báo Tiền Phong lần thứ 66, năm 2025 tại tỉnh Quảng Trị; Tổ chức thành công Giải vô địch môn Đua thuyền truyền thống - Lễ hội “Thống nhất non sông” tỉnh Quảng Trị mở rộng năm 2025. Giải Vô địch Bóng đá nam 7 người tỉnh Quảng Bình năm 2025 tranh Cup Huda. Phối hợp tổ chức giải Karate vô địch quốc gia Miền Trung Tây Nguyên tại tỉnh Quảng Bình (cũ).Tiếp tục quan tâm công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng vận động viên; tập trung các môn thể thao thành tích cao có thế mạnh của tỉnh. Thành lập các Đoàn vận động viên tham gia thi đấu các giải quốc gia đạt những kết quả đáng khích lệ. Tính từ đầu năm đến ngày 16/9/2025 các đội tuyển thể thao thành tích cao tỉnh Quảng Trị đã tham gia thi đấu 47 giải, đạt 281 huy chương (60 HCV, 76 HCB, 145 HCĐ). Trong đó: có 43 giải quốc gia đạt 219 huy chương (48 HCV, 60 HCB, 111 HCĐ); 10 giải xã hội hóa đạt 55 huy chương (08 HCV, 13 HCB, 34 HCĐ) và 04 giải quốc tế đạt 07 huy chương (04 HCV, 03 HCB).4. Tình hình trật tự an toàn xã hội- An toàn giao thông Theo Báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, trong quý III năm 2025 (Từ 15/7/2025 đến 14/9/2025), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 71 vụ tai nạn giao thông, làm 42 người chết và 46 người bị thương. Tất cả các vụ tai nạn giao thông đều xảy ra trên đường bộ. Cộng dồn 9 tháng năm 2025, đã xảy ra 235 vụ tai nạn giao thông, làm 150 người chết, 156 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 26,79% (-86 vụ), số người chết giảm 10,71% (-18 người), số người bị thương giảm 33,04% (-77 người). Trong các vụ tai nạn xảy ra có 232 vụ tai nạn đường bộ, làm 148 người chết, 156 người bị thương; 02 vụ tai nạn đường sắt, làm 01 người chết; 01 vụ tai nạn đường thủy nội địa, làm 01 người chết.- Tình hình cháy nổTrong quý III năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, giảm 19 vụ so cùng kỳ năm trước, không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản hiện đang thống kê. Cộng dồn 9 tháng năm 2025, đã xảy ra 18 vụ cháy, không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính gần 500 triệu đồng.- Tình hình thiên taiTừ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh chịu ảnh hưởng bởi nhiều hình thái thời tiết, nhiều vụ thiên tai xảy ra, trong đó có áp thấp nhiệt đới gây mưa lụt trên diện rộng; mưa giông, lốc sét; Bão và hoàn lưu bão ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của người dân. Đặc biệt, trong số đó là:Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 1 nên từ ngày 11/6 đến ngày 13/6/2025 khu vực tỉnh Quảng Trị đã xảy ra một đợt mưa lớn, khu vực phía nam mưa đặc biệt lớn trái mùa trên diện rộng đã làm 07 người chết, 01 người bị thương; làm thiệt hại khoảng 29.039,05 ha lúa và 2.131,43 ha diện tích hoa màu; gần 5.000 gia súc, gia cầm bị cuốn trôi; nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản bị cuốn trôi và cùng nhiều thiệt hại khác. Tổng thiệt hại ước tính 1.010,2 tỷ đồng. Do ảnh hưởng của bão số 5, từ ngày 24/6 đến 26/8/2025, trên địa bàn tỉnh xuất hiện gió mạnh, mưa rất lớn, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc Quảng Trị. Mưa lớn kéo dài đã gây ngập úng, ngập lụt trên diện rộng, chia cắt nhiều khu vực, một số nơi xảy ra sạt lở đất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân. Thiệt hại cụ thể: 05 người bị thương; 67 nhà bị tốc mái, 01 nhà bị sập; nhiều trụ sở, trường học và công trình hạ tầng dân sinh bị hư hỏng; 2.289 ha lúa bị đổ ngã, ngập úng; 373,5 ha hoa màu, 05 ha ngô sắn, 05 ha cây ăn quả bị thiệt hại; nhiều diện tích cây cao su, cây công nghiệp bị gãy đổ; nhiều vật nuôi bị thiệt hại cùng các tổn thất khác. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 382,1 tỷ đồng. Do ảnh hưởng trực tiếp của bão số 6, trên địa bàn tỉnh xuất hiện gió mạnh kèm theo mưa lớn trên diện rộng. Lượng mưa lớn trong thời gian ngắn đã gây ra lũ trên các sông chính vào ngày 30/8/2025. Mực nước dâng cao, gây ngập úng, ngập lụt diện rộng, chia cắt nhiều khu vực, một số nơi xảy ra sạt lở đất, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân. Thiệt hại cụ thể: 01 nhà bị tốc mái, 01 nhà bị sập (50%); 697 ha lúa, 53,95 ha hoa màu bị đổ ngã, ngập úng; nhiều vật nuôi bị thiệt hại cùng các tổn thất khác. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 90,9 tỷ đồng.5. Tình hình nổi bật khác về xã hộia) Đời sống dân cưQuý III năm 2025 là thời điểm hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị chính thức sáp nhập, thành lập đơn vị hành chính trực thuộc trung ương với tên gọi tỉnh Quảng Trị. Trước sự thay đổi lớn về tổ chức hành chính, tỉnh đã kịp thời chỉ đạo, ban hành các chính sách cụ thể, thiết thực nhằm bảo đảm quyền lợi, ổn định đời sống cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.Sau gần 03 tháng triển khai thực hiện, đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động cơ bản đã dần ổn định cuộc sống và từng bước thích nghi với môi trường làm việc mới.Thực hiện Chỉ thị số 42/CT-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh triển khai xoá nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn cả nước và hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung tay xoá nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn cả nước đến năm 2025”, đến nay tỉnh Quảng Trị cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, thực hiện hiệu quả chính sách cho người có công, thân nhân liệt sĩ; các đối tượng yếu thế trong xã hội. Kết quả thực hiện chương trình: Tổng số nhà đã được khởi công: 13.494 căn (trong đó xây mới 7.292 căn, cải tạo sửa chữa 6.202 căn); Tổng số nhà đã hoàn thành: 12.616 căn (trong đó xây mới 6.628 căn, cải tạo sửa chữa 5.988 căn), đạt tỷ lệ hoàn thành 93,49% và phấn đấu đến 31/12/2025 hoàn thành theo yêu cầu của BCĐ Trung ương.b) Lao động việc làmTrong 9 tháng năm 2025, tình hình lao động, việc làm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có nhiều biến động đáng chú ý, chủ yếu do tác động từ quá trình sáp nhập tỉnh và việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Những thay đổi lớn về tổ chức hành chính đã mang lại cả cơ hội phát triển mới lẫn những thách thức đối với thị trường lao động - việc làm cũng như đời sống kinh tế - xã hội địa phương.Về mặt tích cực, việc mở rộng quy mô tỉnh tạo điều kiện thuận lợi để tăng liên kết vùng, phát huy tốt hơn tiềm năng về hạ tầng, cảng biển, dịch vụ logistics và du lịch, đồng thời mở ra không gian mới để thu hút đầu tư và tạo thêm việc làm. Tại Đồng Hới, trung tâm hành chính mới được hình thành đã tạo thêm một số lượng việc làm ổn định trong khu vực công, đồng thời kéo theo nhu cầu về thương mại, dịch vụ, nhà ở và các hoạt động xã hội tăng lên, qua đó góp phần mở rộng thị trường lao động theo hướng tích cực.Tuy nhiên, một số địa phương tại tỉnh Quảng Trị cũ, đặc biệt là khu vực thành phố Đông Hà đang phải đối mặt với những khó khăn không nhỏ do ảnh hưởng từ việc di dời trung tâm hành chính. Ước tính khoảng 1.500 người, chuyển từ Quảng Trị (cũ) ra Quảng Bình (cũ) công tác, dẫn đến sự sụt giảm nhu cầu tiêu dùng và sử dụng dịch vụ xã hội tại khu vực cũ, sức mua giảm, hoạt động thương mại - dịch vụ gặp nhiều khó khăn. Các doanh nghiệp địa phương phải đối diện với “khó khăn kép” khi vừa thiếu thị trường tiêu thụ, vừa khó giữ chân lao động chất lượng. Tâm lý người dân và nhà đầu tư còn thận trọng trước sự thay đổi về tổ chức hành chính, dẫn đến xu hướng đầu tư mới bị chững lại, làm giảm động lực mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.Trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, nhu cầu tuyển dụng lao động trong khu vực nhà nước có xu hướng thắt chặt, trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân chưa kịp phát triển đủ mạnh để bù đắp khoảng trống việc làm. Điều này dẫn đến khả năng tạo việc làm mới còn hạn chế, nhất là lao động trẻ mới tốt nghiệp khó tìm được công việc phù hợp tại địa phương.Nhìn chung, lực lượng lao động của tỉnh hợp nhất có xu hướng chững lại, số lao động có việc làm giảm nhẹ, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tăng lên. Tuy vậy, đây chủ yếu là biến động mang tính cục bộ và tạm thời, tập trung ở khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc thay đổi trung tâm hành chính. Về dài hạn, quá trình tái cơ cấu không gian phát triển và mở rộng quy mô tỉnh vẫn được kỳ vọng sẽ tạo thêm nhiều cơ hội việc làm và thúc đẩy thị trường lao động phát triển bền vững hơn.c) Công tác an sinh xã hội Việc hợp nhất 2 tỉnh sẽ mở ra không gian phát triển mới, tối ưu hóa nguồn lực, phát huy lợi thế hạ tầng giao thông, kinh tế biển, năng lượng sạch và du lịch. Đây là cơ hội lịch sử để hình thành một cực tăng trưởng mới của Bắc Trung Bộ. Sự mở rộng quy mô tỉnh và dân số đông hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi để củng cố, nâng cao chất lượng an sinh xã hội cho toàn thể người dân, phát huy các tiềm năng và thế mạnh sẵn có. Công tác an sinh, phúc lợi xã hội được đảm bảo, trong đó các đối tượng người cao tuổi, người nghèo, bảo trợ xã hội, người có hoàn cảnh khó khăn luôn được lãnh đạo tỉnh quan tâm và ưu tiên hàng đầu. Nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/2025), tỉnh Quảng Trị đã tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa nhằm tri ân người có công với cách mạng. Các hoạt động như thăm hỏi, tặng quà cho gia đình chính sách, hỗ trợ sửa chữa nhà tình nghĩa, tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí, vệ sinh các nghĩa trang, nhà bia ghi danh và đài tưởng niệm đã được triển khai, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và truyền thống nhân văn của dân tộc Trong quý III năm 2025, công tác an sinh xã hội luôn được chú trọng, đặc biệt là các đối tượng người nghèo, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người cao tuổi, đối tượng yếu thế trong xã hội. Tỉnh đã hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Giải quyết trợ cấp hàng tháng là 314.055 triệu đồng, giảm 945 triệu đồng, giảm 0,3% so với quý trước, hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP là 188.523 triệu đồng, cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế là 554.080 thẻ.Khái quát lại, Quảng Trị triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển KT - XH quý III và 9 tháng năm 2025 bên cạnh những khó khăn, thách thức vẫn có nhiều thuận lợi. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đạt được những kết quả đáng ghi nhận: kinh tế ổn định và tăng trưởng khá, GRDP 9 tháng đầu năm ước tính tăng 7,92%; hoạt động lâm nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định; sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, các dự án được đẩy mạnh tiến độ, công tác giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 được chú trọng, đặc biệt là du lịch tăng trưởng nhanh. Đó là những yếu tố quan trọng góp phần vào tăng trưởng kinh tế Quảng Trị trong năm 2025. Trong thời gian tới, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, UBND, các cấp, các ngành, các địa phương quyết tâm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp của Chính phủ về phát triển KT - XH năm 2025 nhằm phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP đạt 8,0%. Cụ thể cần triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây: - Tập trung rà soát, hoàn thiện, kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân sự trong thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm vận hành thông suốt, trơn tru, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt nhất. - Đẩy mạnh cải cách hành chính và môi trường đầu tư thông qua ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong thủ tục hành chính, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch và thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, đặc biệt là thu hút vốn FDI. - Thúc đẩy giải ngân đầu tư công, tạo bứt phá, tháo gỡ điểm nghẽn về cơ sở hạ tầng giao thông, qua đó tạo động lực cho hoạt động xây dựng tăng trưởng và đóng góp vào kinh tế tỉnh. - Tháo gỡ, vướng mắc khó khăn của doanh nghiệp: tập trung chỉ đạo các đơn vị nỗ lực, quyết liệt thực hiện các giải pháp, nhiệm vụ một cách triệt để nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian tới. - Quyết liệt, chủ động, tích cực thực hiện 4 Nghị quyết "Bộ tứ trụ cột" của Bộ Chính trị về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; về xây dựng và thực thi pháp luật; về phát triển kinh tế tư nhân; về hội nhập quốc tế. - Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hóa, số hóa, dựa trên công nghiệp, dịch vụ, đột phá khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy mạnh mẽ các khu kinh tế, cửa khẩu, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao; nông nghiệp sạch, sinh thái; dịch vụ, du lịch chất lượng cao gắn với lịch sử, văn hóa đặc trưng, đẩy mạnh phát triển du lịch tâm linh.- Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn: Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả và bền vững; chú trọng phối hợp các đơn vị liên quan tăng cường thu hút, kêu gọi các nhà đầu tư có tiềm lực, uy tín triển khai các dự án lớn về du lịch xứng tầm với tiềm năng, thế mạnh du lịch của tỉnh để phát triển bứt phá, tiếp tục khẳng định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác.- Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng chiến lược (giao thông, năng lượng, đô thị, y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, thể thao,...), đẩy mạnh hợp tác công - tư; tiếp tục đẩy nhanh tiến độ, chất lượng các công trình, dự án lớn, góp phần tăng cường liên kết vùng và quốc tế, tham gia sâu các chuỗi cung, chuỗi giá trị. - Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu để bảo vệ các di tích, cảnh quan; bảo toàn các thành quả phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao môi trường sống. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách, giải pháp chủ động giám sát, phân tích, dự báo, cảnh báo giảm thiểu thiệt hại do thiên tai và khí hậu cực đoan gia tăng do biến đổi khí hậu, trọng tâm là dự báo, cảnh báo các thiên tai liên quan đến bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, lũ quét, sạt lở đất, cấp báo động lũ; rà soát các công trình hồ, đập, đê, kè xuống cấp, các khu vực dân cư mất an toàn,… để có phương án đảm bảo trong mùa mưa lũ./.
BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 8 VÀ 8 THÁNG NĂM 2025
- 23/10/2025 09:28
Tháng 8 năm 2025, đây là tháng thứ 2 sau khi thực hiện chủ trương sáp nhập tỉnh, Quảng Trị thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã cơ bản vận hành thông suốt, đạt hiệu quả. Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục có xu hướng phát triển và đạt được kết quả tích cực, tạo đà tăng trưởng quý III và cả năm 2025. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong tháng 8 và 8 tháng năm 2025 như sau: I. KINH TẾ 1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng 8/2025, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục chịu nhiều tác động đan xen phức tạp của yếu tố thời tiết, dịch bệnh và thị trường. Hiện nay, các địa phương đang tập trung chăm sóc, thu hoạch các cây trồng vụ Hè Thu, đặc biệt là lúa, nhằm bảo đảm tiến độ thời vụ, hạn chế rủi ro do mưa, bão. Sản xuất chăn nuôi ghi nhận những biến động lớn, trong khi đàn bò và gia cầm có xu hướng tăng trưởng tích cực thì đàn lợn sụt giảm mạnh do dịch tả lợn châu Phi, gây ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn cung thịt hơi. Sản xuất lâm nghiệp duy trì ổn định, công tác trồng rừng, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy được triển khai hiệu quả; sản lượng khai thác gỗ tiếp tục tăng khá. Sản xuất thủy sản nhìn chung phát triển ổn định, hoạt động khai thác thủy sản phát triển khá, song nuôi trồng gặp khó khăn do thời tiết bất lợi và dịch bệnh. a) Nông nghiệp * Trồng trọt Sản xuất vụ Hè Thu trong tháng 8/2025 cơ bản đảm bảo tiến độ và bám sát khung lịch thời vụ. Mặc dù thời tiết đầu Vụ nắng nóng kéo dài, song nhờ sự chủ động trong việc điều tiết và dự trữ nguồn nước, kết hợp với những đợt mưa rào bổ sung nên cây trồng nhìn chung sinh trưởng ổn định. Đến cuối tháng, phần lớn diện tích gieo trồng đã hoàn thành, nhiều loại cây trồng bắt đầu cho thu hoạch, góp phần bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm. Ước tính diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Hè Thu năm nay thực hiện 77.499,5 ha, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu như sau: - Cây lúa: Diện tích thực hiện 46.639,1 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước (Trong đó: Diện tích lúa gieo trồng 38.932,4 ha, tăng 1,7%; diện tích lúa tái sinh 7.706,7 ha, giảm 10,6% so với cùng kỳ năm trước). Diện tích lúa gieo trồng tăng do sự nỗ lực tích cực của bà con nông dân trong khôi phục, khai thác lại những thửa ruộng từng bị bỏ hoang, đưa đất nhàn rỗi vào sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp; cộng thêm một số diện tích lúa tái sinh bị ngập, hư hại, không khắc phục được nên sau khi hết ngập, bà con nông dân khẩn trương làm đất, tiến hành gieo trồng mới. Do ảnh hưởng mưa lớn đầu Vụ, nhiều diện tích lúa phải gieo trồng lại nên tiến độ thu hoạch vụ Hè Thu năm nay chậm hơn so với năm trước. Ước tính đến 25/8/2025, toàn tỉnh thu hoạch được khoảng 10% diện tích lúa Hè Thu, phần lớn diện tích còn lại dự kiến tập trung thu hoạch vào đầu tháng 9, tiềm ẩn rủi ro nếu thời tiết bất lợi. Hình 1. Diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Hè Thu - Các loại cây trồng khác: Ngô 1.372,2 ha, giảm 10,7%; khoai lang 635,3 ha, giảm 12,7%; sắn 20.086 ha, tương đương so với cùng kỳ; lạc 532,3 ha, giảm 10,9%; rau, đậu các loại 5.289,0 ha, giảm 2,3% so với vụ Hè Thu năm trước. Diện tích gieo trồng một số cây trồng giảm do mưa lớn đầu Vụ gây ngập úng, chi phí gieo trồng tăng khiến nông dân hạn chế mở rộng sản xuất. Tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng đến ngày 21/8/2025: - Trên lúa: Chuột gây hại với diện tích 376 ha, tỷ lệ hại phổ biến 7 - 10%, cục bộ 20 - 30%; tập trung ở các xã Gio Linh, Bến Hải, Nam Hải Lăng; diện tích phòng trừ 500 ha. Sâu cuốn lá nhỏ diện tích gây hại 271 ha, mật độ phổ biến 5 - 7 con/m2, nơi cao 15 - 30 con/m2, sâu tuổi 3 - 4; tập trung ở các xã Hải Lăng, Nam Hải Lăng, Trường Phú, Lệ Thủy, Bố Trạch, Cam Lộ, Hiếu Giang; diện tích phòng trừ 455 ha. Rầy nâu, rầy lưng trắng gây hại với diện tích 208 ha, mật độ phổ biến 300 - 500 con/m2, nơi cao 1.000 - 3.000 con/m2, rầy gối lứa; tập trung ở các xã Quảng Ninh, Ninh Châu, Minh Hóa, Trường Phú; diện tích phòng trừ 3.905 ha. Bệnh khô vằn gây hại với diện tích nhiễm 870 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 7 - 10%, nơi cao 15-20%, cục bộ >50%, cấp bệnh C1 - C3; tập trung tại các xã Hiếu Giang, Cam Lộ, Triệu Bình, Nam Cửa Việt, Quảng Trạch, Quảng Ninh. Nhện gié gây hại với diện tích nhiễm 316 ha, tỷ lệ hại phổ biến 5 - 7%, nơi cao 20 - 30%, cục bộ 35 - 60%; tập trung tại các xã Hải Lăng, Vĩnh Linh, Bến Hải, Gio Linh, Nam Cửa Việt; diện tích phòng trừ 1.200 ha. Bệnh bạc lá vi khuẩn gây hại với diện tích nhiễm 42 ha; tỷ lệ hại phổ biến 10 - 15%, nơi cao 15 - 20%, cấp bệnh C1 - C3; tập trung tại các xã Quảng Ninh, Khe Sanh, A Dơi; diện tích phòng trừ 10 ha. Bệnh lem lép hạt gây hại với diện tích nhiễm 58 ha; tỷ lệ hại phổ biến 3 - 5%, nơi cao 7 - 10%, cấp bệnh C1 - C3; tập trung tại ở xã Bến Hải, Gio Linh, Hiếu Giang, Cam Lộ, Cửa Việt, Quảng Ninh; diện tích phòng trừ 3.200 ha. - Trên cây sắn: Bệnh khảm lá gây hại với diện tích nhiễm 4.088 ha, tỷ lệ bệnh phổ biến 10 - 20%, nơi cao 30 - 50%, cục bộ 70 - 80%; cấp 3 - 5, 7 - 9. Tập trung ở các xã Bố Trạch, Hoàn Lão, Hướng Hiệp, Bến Hải, Cồn Tiên, Vĩnh Linh, Nam Hải lăng, Hải Lăng[1]. * Chăn nuôi Sản xuất chăn nuôi trong tháng 8 gặp nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng nặng nề dịch bệnh, thời tiết diễn biến phức tạp. Tuy đàn bò và gia cầm tiếp tục phát triển khá, góp phần nâng cao sản lượng thịt hơi xuất chuồng, nhưng đàn trâu, đặc biệt đàn lợn lại suy giảm mạnh do ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn châu Phi, gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi và làm giảm tính ổn định của nguồn cung thịt lợn trên thị trường. Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 8/2025 đạt 12.235,5 tấn, giảm 3,9% so với cùng kỳ. Trong đó: thịt trâu 234,5 tấn, tăng 3,3%; thịt bò 1.270 tấn, tăng mạnh 19,5% (do Công ty TNHH Chăn nuôi Hòa Phát Quảng Bình có sản lượng xuất bán lớn); thịt lợn 6.283 tấn, giảm 12,9% (do chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn châu Phi); thịt gia cầm 4.448 tấn, tăng 5,3% (riêng thịt gà 3.268 tấn, tăng 5,3%) so với cùng kỳ năm trước. Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng 8 tháng đạt 103.697,5 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thịt trâu 1.741 tấn, giảm 2,2%; thịt bò 8.663,7 tấn, tăng 9,0%; thịt lợn 60.933,4 tấn, tăng 2,2%; thịt gia cầm 32.359,4 tấn, tăng 3,9% (trong đó: Thịt gà đạt 24.533,6 tấn, tăng 4,9%) so với cùng kỳ năm trước. Hình 2. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm: - Dịch tả lợn châu Phi: Lũy kế đến ngày 24/8/2025, dịch bệnh đã xảy ra tại 7.726 hộ/583 thôn/60 xã, phường, buộc tiêu hủy 59.891 con lợn, với tổng trọng lượng 3.643,7 tấn. Hiện có 2/60 xã, phường có dịch đã qua 21 ngày; 58/60 xã, phường chưa qua 21 ngày. Đây là nguyên nhân chính khiến đàn lợn giảm mạnh, đồng thời tạo áp lực cho nguồn cung thịt lợn trên địa bàn tỉnh. - Bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò: Có 4 con bò/ 4 hộ mắc bệnh; trong đó có 2 con bò chết với trọng lượng 380 kg, 2 con đang điều trị[2]. Sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh đang trong giai đoạn khó khăn, chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh, đặc biệt là trên đàn lợn, gây tổn thất kinh tế đáng kể cho người chăn nuôi. Tuy nhiên, sự phát triển ổn định của đàn bò và gia cầm đã phần nào bù đắp nguồn cung thực phẩm, giúp giữ được mức tăng trưởng chung của ngành chăn nuôi trong 8 tháng năm 2025. b) Lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp tháng 8 năm 2025 chủ yếu tập trung thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng, tiến hành trồng rừng khi thời tiết thuận lợi, chăm sóc diện tích rừng đã trồng. Trong thời gian qua, nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế rừng, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chú trọng đưa các ứng dụng kỹ thuật vào công tác trồng và chăm sóc rừng. Vì vậy, hầu hết diện tích rừng đều sinh trưởng và phát triển tốt qua từng năm, đảm bảo độ che phủ theo đúng tiêu chuẩn đề ra. Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 8/2025 ước đạt 2.090,0 ha, tăng 0,2%; lũy kế 8 tháng năm 2025 ước đạt 12.444,1 ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tháng 8/2025 ước đạt 239.910 m3, tăng 0,8%; lũy kế 8 tháng năm 2025 ước đạt 1.608.095 m3, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác tăng, do chất lượng rừng trồng được nâng cao, diện tích rừng trồng của các hộ dân, doanh nghiệp đã đến kỳ thu hoạch. Trong tháng 8/2025, trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra cháy rừng. Luỹ kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, với diện tích thiệt hại 9,5 ha; ngoài ra, có 4 vụ vi phạm rừng, diện tích rừng tác động 0,8 ha. Các ngành chức năng tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cộng đồng về quản lý và bảo vệ rừng; tổ chức tập huấn, diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng cho các chủ rừng; đồng thời thường xuyên kiểm tra, giám sát, ngăn chặn kịp thời các hành vi khai thác và phá rừng trái pháp luật. c) Thủy sản Trong tháng 8/2025, hoạt động khai thác thủy sản đạt kết quả khá, ngư dân tích cực vươn khơi bám biển, duy trì sản xuất ổn định, góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, hoạt động nuôi trồng giảm về quy mô và sản lượng thu hoạch do ảnh hưởng của mưa, bão bất thường trong tháng 6, tháng 7 gây ngập các hồ, ao nuôi thủy sản, khiến sản lượng thu hoạch trong tháng 8 không đạt cao như các năm trước. Sản lượng thuỷ sản tháng 8/2025 ước đạt 16.356,7 tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 13.259,8 tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 1.485,1 tấn, giảm 0,6%; thuỷ sản khác đạt 1.611,8 tấn, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thuỷ sản 8 tháng năm 2025 ước đạt 97.159,1 tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 79.237,6 tấn, tăng 1,1%; tôm đạt 6.495,9 tấn, giảm 1,3%; thủy sản khác đạt 11.425,6 tấn, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Hình 3. Sản lượng thủy sản * Khai thác Tháng 8, đang trong vụ cá Nam, một mùa vụ rất quan trọng với ngư dân, giai đoạn nhiều loài thủy hải sản phong phú, chất lượng cao, giá trị thương phẩm lớn. Nhờ vậy, mỗi chuyến ra khơi của ngư dân đều mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng tăng, giá cả ổn định, chính sách hỗ trợ khai thác xa bờ được triển khai đã khuyến khích ngư dân tích cực bám biển. Ước tính sản lượng khai thác thủy sản tháng 8/2025 đạt 13.065,7 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 11.308,8 tấn, tăng 3,0%; tôm đạt 225,6 tấn, tăng 1,1%; thủy sản khác đạt 1.531,3 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính sản lượng khai thác thủy sản 8 tháng năm 2025 đạt 82.306,8 tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 69.923,2 tấn, tăng 1,4%; tôm đạt 1.390,1 tấn, tăng 0,5%; thủy sản khác đạt 10.993,5 tấn, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Công tác kiểm tra đăng ký, đăng kiểm tàu cá và các điều kiện đảm bảo an toàn, phương tiện được chú trọng, các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ được ban hành. Từ đó giúp cho hoạt động khai thác đánh bắt thuỷ sản trên biển đạt hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. * Nuôi trồng Nuôi trồng thủy sản gặp nhiều khó khăn do thời tiết diễn biến phức tạp. Nắng nóng kéo dài xen kẽ mưa giông ảnh hưởng đến sinh trưởng của vật nuôi; đầu vụ mưa rét kéo dài khiến việc thả giống chậm; ảnh hưởng của mưa, bão bất thường trong tháng 6, tháng 7 gây ngập các hồ, ao nuôi thủy sản, gây thiệt hại cho một số diện tích nuôi. Ngoài ra, chi phí đầu tư cao, dịch bệnh diễn biến khó lường khiến người dân thả nuôi thận trọng, đặc biệt đối với tôm. Ước tính sản lượng thu hoạch tháng 8/2025 đạt 2.992,1 tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 1.951,0 tấn, tăng 1,7%; tôm đạt 1.259,5 tấn, giảm 1,1%; thủy sản khác đạt 76,3 tấn, giảm 7,0% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính sản lượng thu hoạch 8 tháng năm 2025 đạt 14.852,3 tấn, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 9.314,4 tấn, giảm 1,2%; tôm đạt 5.105,8 tấn, giảm 3,2%; thủy sản khác đạt 432,1 tấn, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, các địa phương đang tập trung các giải pháp thích ứng vừa chăm sóc và thu hoạch kịp thời, gia cố ao nuôi - lồng bè trước mùa mưa bão, đồng thời duy trì công tác sản xuất giống, ứng dụng công nghệ ươm dưỡng để cung cấp con giống chất lượng, phục vụ nhu cầu tái đàn trong tỉnh và các vùng lân cận. 2. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tháng 8 năm 2025 tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định so với tháng trước và tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Một số doanh nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm, sản xuất trang phục, công nghiệp chế biến gỗ, ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác có các đơn hàng mới được ký kết, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất; các công trình xây dựng được triển khai, đẩy nhanh tiến độ; ngành sản xuất và phân phối điện tăng khá góp phần duy trì tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 8 năm 2025 tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 6,9%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,7%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,0%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 12,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,4%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước. Hình 4. Chỉ số sản xuất công nghiệp Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2025 của một số ngành cấp 2 tăng so với cùng kỳ năm trước: In, sao chép bản ghi các loại tăng 16,4%; khai khoáng khác tăng 15,7%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 11,7%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 11,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,9%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 8,8%. Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất đồ uống giảm 3,5%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan giảm 12,3%; khai thác quặng kim loại giảm 47,7% (nguyên nhân ngành khai thác quặng kim loại giảm mạnh chủ yếu do một số mỏ khai thác thời gian dài bắt đầu cạn kiệt, hàm lượng kim loại trong quặng thấp, khiến chi phí khai thác tăng cao không còn hiệu quả kinh tế nên doanh nghiệp tạm dừng khai thác. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp tồn kho cao, chưa tiêu thụ hết nên giảm sản lượng khai thác). Sản lượng sản xuất một số sản phẩm chủ yếu 8 tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước như: Viên gỗ đạt 31.360 tấn, tăng 100,4%; cao lanh đạt 77.599 tấn, tăng 58,3%; tinh bột sắn đạt 63.519 tấn, tăng 22,6%; điện gió đạt 1.988 triệu kWh, tăng 15,6%; áo sơ mi đạt 9.047 nghìn cái, tăng 15,6%; dăm gỗ đạt 602.461 tấn, tăng 14,1%; đá xây dựng đạt 1.911,5 nghìn m3, tăng 11,8%; clinker thành phẩm đạt 1.906,9 nghìn tấn, tăng 10,9%. Một số sản phẩm sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: Quặng ilmenit đạt 7.860 tấn, giảm 47,6%; quặng titan đạt 15.416 tấn, giảm 53,5%; cao su tổng hợp đạt 783 tấn, giảm 30,6%; nước khoáng có ga đạt 1.273 nghìn lít, giảm 14,1%; bia đóng lon đạt 22.852 nghìn lít, giảm 12,8%; bia đóng chai đạt 3.850 nghìn lít, giảm 9,3%; điện mặt trời đạt 209 triệu kWh, giảm 8,6%. 3. Vốn đầu tư Sau 2 tháng đi vào hoạt động, chính quyền địa phương hai cấp tại tỉnh Quảng Trị đã nhanh chóng kiện toàn bộ máy, từng bước vận hành ổn định và phát huy hiệu quả. Công tác quản lý, phân bổ và triển khai vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh tiếp tục được chú trọng, đẩy mạnh. Ủy ban nhân dân tỉnh xác định việc triển khai hiệu quả kế hoạch đầu tư công có vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tình hình thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 8 tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác phân bổ, điều hành vốn được thực hiện chủ động, kịp thời, gắn với việc đôn đốc giải ngân. Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ mục tiêu tăng so với cùng kỳ, tập trung vào các dự án hạ tầng trọng điểm; một số nguồn vốn khác tăng nhờ tăng thu, tiết kiệm chi và chuyển nguồn. Điều kiện thời tiết thuận lợi, nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật được triển khai thi công liên tục, khối lượng thực hiện cao hơn tháng trước và cùng kỳ năm 2024. Tuy nhiên, vốn ngân sách Nhà nước cấp xã giảm so với cùng kỳ, chủ yếu do nguồn thu từ quỹ đất còn khó khăn. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng từ việc điều chỉnh lại bộ máy chính quyền địa phương hai cấp, một số dự án thuộc nguồn vốn ngân sách cấp xã quản lý chưa kịp thời khởi động lại, gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai. Cụ thể: Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng 8 năm 2025 ước đạt 1.137,7 tỷ đồng, tăng 13,5% so với tháng trước và tăng 59,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.100,3 tỷ đồng, tăng 65,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 37,4 tỷ đồng, giảm 24,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 5.326,4 tỷ đồng tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 5.060,4 tỷ đồng, tăng 26,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 266,0 tỷ đồng, giảm 31,4% so với cùng kỳ năm trước. 4. Thương mại, dịch vụ a) Tổng mức bán lẻ hàng hóa Tháng 8/2025, là thời điểm chuẩn bị bước vào năm học mới nên các mặt hàng giáo dục, văn phòng phẩm, sách vở, đồng phục, đồ dùng học tập và những sản phẩm liên quan khác tăng. Các doanh nghiệp bán lẻ, siêu thị và cửa hàng chuyên doanh đã chủ động chuẩn bị nguồn hàng phong phú, bảo đảm chất lượng, đồng thời triển khai nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn, giá cả hợp lý góp phần thu hút khách hàng. Nhờ vậy, doanh thu bán lẻ hàng hóa tiếp tục tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 8/2025 ước tính tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 13,0% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu các nhóm hàng hóa đa phần tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ; nhóm may mặc ước tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 13,5% so với cùng kỳ; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục ước tăng 4,3% so với tháng trước và tăng 4,8% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 16,7% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ,…; Chỉ có một nhóm hàng hóa giảm so với tháng trước đó là nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước giảm 1,1% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 11,9% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm ngành đều tăng so với cùng kỳ. Chiếm tỷ trọng và tăng cao nhất là nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 13,8% so với cùng kỳ, đóng góp tăng cao nhất 5,3 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa. b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành Tháng 8/2025, tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện thu hút khách du lịch như: Tổ chức chương trình bắn pháo hoa tầm thấp định kỳ hàng tuần từ 19/7 - 02/9/2025 tại Khu đô thị Bảo Ninh 1 và bãi biển Bảo Ninh; tổ chức lễ hội sôi động biểu diễn âm nhạc Regal Sunset Timeline; các hoạt động chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,… Tuy nhiên, tháng 8 là thời điểm học sinh chuẩn bị bước vào mùa tựu trường, đồng thời gần cuối mùa du lịch cao điểm nên nhu cầu đi tham quan du lịch của người dân giảm, do đó hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành giảm so với tháng trước. - Dịch vụ lưu trú: Doanh dịch vụ lưu trú tháng 8/2025 ước tính giảm 13,7% so với thu tháng trước và tăng 18,4% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng năm 2025 tăng 17,1% so với cùng kỳ. Số lượt khách lưu trú tháng 8/2025 ước tính giảm 16,1% so với tháng trước và tăng 16,4% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng năm 2025 tăng 12,4% so với cùng kỳ. Số lượt khách quốc tế lưu trú tháng 8/2025 ước tính tăng 9,2% so với tháng trước và giảm 20,2% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng năm 2025 giảm 19,7% so với cùng kỳ. Ngày khách tháng 8/2025 ước tính giảm 16,2% so với tháng trước và tăng 25,7% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng năm 2025 tăng 12,0% so với cùng kỳ. - Dịch vụ ăn uống: Tháng 8/2025, doanh thu dịch vụ ăn uống ước tính giảm 5,0% so với tháng trước và tăng 16,3% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng năm 2025 tăng 15,0% so với cùng kỳ. Hình 6. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống - Du lịch lữ hành: Doanh thu hoạt động lữ hành tháng 8/2025 ước tính giảm 11,6% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng năm 2025 tăng 23,5% so với cùng kỳ. Số lượt khách du lịch lữ hành tháng 8/2025 ước tính giảm 16,1% so với tháng trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng năm 2025 tăng 12,0% so với cùng kỳ. Số lượt khách quốc tế lữ hành tháng 8/2025 ước tính tăng 9,4% so với tháng trước và tăng 1,0% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng năm 2025 tăng 3,9% so với cùng kỳ. Hình 7. Dịch vụ du lịch lữ hành c) Các ngành kinh doanh dịch vụ Tháng 8/2025 doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ giảm so với tháng trước do nhu cầu sử dụng dịch vụ vui chơi, giải trí, làm đẹp,… giảm. Ước tính doanh thu hoạt động các ngành kinh doanh dịch vụ tháng 8/2025 giảm 1,0% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ. Nhìn chung các nhóm ngành kinh doanh dịch vụ khác đa phần tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 23,1% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo ước tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 9,6% so với cùng kỳ,… Chỉ có một nhóm ngành dịch vụ giảm so với tháng trước đó là nhóm nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước giảm 6,7% so với tháng trước và tăng 7,3% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2025, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ khác ước tính tăng 13,2% so với cùng kỳ. Trong đó nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 19,2% đóng góp tăng 2,5 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 19,1% đóng góp tăng 2,7 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 0,7% đóng góp tăng 2,6 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ khác tăng 14,4% đóng góp tăng 2,9 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của các ngành kinh doanh dịch vụ. d) Hoạt động vận tải Bước sang tháng 8/2025, theo đà tăng trưởng của những tháng trước, ngành vận tải tiếp tục đạt được kết quả tích cực. Tuy nhiên, do thời tiết miền Trung bắt đầu bước vào mùa mưa, bão; là thời điểm học sinh chuẩn bị bước vào mùa tựu trường, đồng thời gần cuối mùa du lịch cao điểm nên nhu cầu đi lại, tham quan du lịch của người dân giảm; vì vậy, hoạt động vận tải hành khách đạt mức tăng trưởng thấp hơn so với tháng trước. Bên cạnh đó, hoạt động vận tải hàng hóa vẫn ổn định, đảm bảo lưu thông hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng, đặc biệt là vận chuyển vật liệu xây dựng cho các công trình xây dựng đang bước vào thời kỳ đẩy nhanh tiến độ nhằm hoàn thành trước mùa mưa bão. Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 8/2025 ước tăng 2,0% so với tháng trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tăng 12,9% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách tăng 11,3%; vận tải hàng hóa tăng 13,7%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tăng 9,1% so với cùng kỳ. Hình 8. Doanh thu hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải - Vận tải hành khách Số lượt hành khách vận chuyển tháng 8/2025 ước giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 16,7% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, số lượt hành khách vận chuyển ước tăng 11,4%; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 11,4% so với cùng kỳ. - Vận tải hàng hóa Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 8/2025 ước tăng 2,8% so với tháng trước và tăng 18,0% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 18,0% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 13,6% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 13,2% so với cùng kỳ. e) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Trong tháng 8/2025, dịch tả lợn châu Phi vẫn còn lan rộng nên người tiêu dùng e ngại và hạn chế dùng thịt lợn dẫn đến giá thịt lợn giảm; giá nhiên liệu được điều chỉnh nhiều lần; giá gas, giá điện, nước sinh hoạt giảm,… là nguyên nhân chính khiến Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2025 giảm 0,11% so với tháng trước (Trong đó: Khu vực thành thị giảm 0,02%, khu vực nông thôn giảm 0,16%); nhưng tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước; tăng 0,58% so với tháng 12/2024. CPI bình quân 8 tháng năm 2025 tăng 4,50% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 7 nhóm hàng tăng giá và 4 nhóm hàng giảm giá. Có 7 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước đó là: Nhóm hàng đồ uống và thuốc lá tăng 0,35%, tác động đến CPI chung tăng 0,01 điểm phần trăm; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,49%, tác động đến CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,58%, tác động đến CPI chung tăng 0,09 điểm phần trăm. Nguyên nhân chính do sau thời gian sáp nhập tỉnh và các đơn vị hành chính nhu cầu nhà ở tăng cao đã tác động làm giá nhà ở thuê tăng 2,18% so với tháng trước; Bên cạnh đó, nhu cầu sửa chữa nhà ở tăng cao đã làm chỉ số giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 1,40% so với tháng trước; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; nhóm giáo dục tăng 0,26%, do nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập cho học sinh chuẩn bị cho năm học mới tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,20%, tác động đến CPI chung tăng 0,01 điểm phần trăm; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,04% so với tháng trước. Có 4 nhóm hàng hóa giảm giá so với tháng trước đó là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,71%; nhóm giao thông giảm 0,11%, tác động đến CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm. Nguyên nhân chính do giá nhiên liệu điều chỉnh theo giá nhiên liệu thế giới đã làm giá nhiên liệu giảm 0,40% so với tháng trước; nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,13%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,04% so với tháng trước.- Chỉ số giá vàng 99,99% Giá vàng bình quân tháng 8/2025 là 11,25 triệu đồng/ chỉ vàng 9999, tăng 1,96% so với tháng trước, tăng 204,27% so với kỳ gốc 2019, tăng 50,57% so với cùng kỳ, bình quân 8 tháng tăng 38,22% so với cùng kỳ.- Chỉ số giá đô la Mỹ (USD)Giá đô la Mỹ (USD) bình quân tháng 8/2025 là 26.427 VNĐ/USD, tăng 0,23% so với tháng trước, tăng 13,20% so với kỳ gốc 2019, tăng 4,52% so với cùng kỳ, bình quân 8 tháng tăng 3,59% so với cùng kỳ. II. XÃ HỘI 1. Y tế Trong tháng 8, tình hình các bệnh truyền nhiễm đều được kiểm soát tốt. Tính đến ngày 18/8/2025, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị ghi nhận 507 ca sốt xuất huyết, 1.091 ca nghi sởi, 8.332 ca cúm, 430 ca thủy đậu và 107 ca tay chân miệng. Mặc dù các ca bệnh có xu hướng tăng nhưng các đơn vị đã chủ động giám sát, triển khai các biện pháp chuyên môn, khống chế có hiệu quả các dịch bệnh. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được chú trọng. Trong tháng, không có vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra, không ghi nhận ca ngộ độc thực phẩm nhỏ lẻ. Tính từ đầu năm đến 15/8/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 158 ca ngộ độc thực phẩm nhỏ lẻ, các bệnh nhân đã được nhập viện điều trị kịp thời. 2. Giáo dục, đào tạo Ngày 20/8/2025, UBND tỉnh đã ra Quyết định số 1019/QĐ-UBND ban hành khung kế hoạch thời gian năm học 2025 - 2026; Công văn về việc tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm thành lập Bộ Quốc gia Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) và Khai giảng năm học 2025 - 2026 (Công văn số 586/UBND-KGVX ngày 20 tháng 8 năm 2025). Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị tổ chức hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến triển khai phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, phổ biến phạm vi và nguyên tắc thực hiện về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền quản lý nhà nước về giáo dục khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Thông qua hội nghị, UBND các xã, phường và các cơ sở giáo dục trên địa bàn được trang bị, nắm vững chức năng, nhiệm vụ, chủ động tiếp nhận, quản lý, thực hiện đúng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục. Trong tháng 8, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị đã tổ chức nhiều lớp tập huấn như phối hợp với Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (C.CIHP), dự án Hòa nhập 1 đã tổ chức khóa tập huấn chuyên đề “Giáo dục hòa nhập dành cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non”; Phối hợp kết nối 6 điểm cầu ở các địa phương tập huấn nâng cao chất lượng quản lý cho các cơ sở mầm non độc lập, thu hút sự tham dự của hơn 350 đại biểu, bao gồm chủ nhóm trẻ và giáo viên đang trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non độc lập; Phối hợp với Quỹ Dariu tổ chức đợt tập huấn chuyên đề “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục” cho cán bộ quản lý và giáo viên các cấp trên địa bàn tỉnh. Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ phổ cập kỹ năng số cho học sinh tỉnh Quảng Trị” do Quỹ Dariu tài trợ; Tập huấn nâng cao năng lực triển khai giáo dục “Công dân số” và “Kỹ năng sống” cho học sinh tiểu học đáp ứng Chương trình GDPT 2018; Tổ chức tập huấn ứng dụng giáo dục STEAM trong thực hiện Chương trình tại các cơ sở giáo dục mầm non. 3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao a) Hoạt động văn hóa Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quảng Trị trình UBND tỉnh ban hành: Kế hoạch số 480/KH-UBND ngày 12 tháng 8 năm 2025 của UBND tỉnh Quảng Trị về việc tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); Kế hoạch số 529/KH-UBND ngày 15 tháng 8 năm 2025 của UBND tỉnh Quảng Trị về việc tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt “Quảng Trị - Hội tụ và toả sáng”; Kế hoạch triển khai thi hành Luật Di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Sở cũng tham mưu UBND tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện các hoạt động triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh (02/9/1945 - 02/9/2025) tại Thành phố Hà Nội. b) Hoạt động thể dục thể thao Trong tháng 8, đội tuyển thể thao thành tích cao tỉnh Quảng Trị đã tham gia thi đấu 6 giải toàn quốc, quốc gia đạt 55 huy chương các loại (06 HCV, 22 HCB, 27 HCĐ). Trong đó, giải vô địch Boxing trẻ toàn quốc tại Nam Định từ ngày 17/7 - 27/7/2025 đạt 04 huy chương, gồm: (01 HCB; 03 HCĐ); Giải Cờ Vua trẻ Miền Trung và Tây Nguyên mở rộng lần thứ VII tại Gia Lai từ ngày 01/8 - 05/8/2025 đạt 39 huy chương (05 HCV, 14 HCB, 20 HCĐ); Giải vô địch Điền kinh quốc gia tại Đà Nẵng từ ngày 02/8 - 15/8/2025 đạt 03 huy chương (01 HCB, 02 HCĐ); Giải vô địch Cầu lông cá nhân quốc gia tại Đồng Nai từ ngày 08/8 - 16/8/2025 không đạt huy chương; Giải vô địch trẻ Vật cổ điển, Vật tự do quốc gia tại Thanh Hóa từ ngày 04/8 - 15/8/2025 đạt 06 huy chương (01 HCV, 04 HCB, 01 HCĐ); Giải Đua thuyền Canoeing vô địch trẻ và vô địch U23 quốc gia tại TP. HCM từ ngày 10/8 - 18/8/2025 đạt 03 huy chương (02 HCB, 01 HCĐ). Tính từ đầu năm đến ngày 21/8/2025 các đội tuyển thể thao thành tích cao tỉnh Quảng Trị đã tham gia thi đấu 41 giải, đạt 260 huy chương (47 HCV, 72 HCB và 141 HCĐ). Trong đó: có 29 giải quốc gia đạt 201 huy chương (37 HCV, 56 HCB, 108 HCĐ); 09 giải xã hội hóa đạt 54 huy chương (08 HCV, 13 HCB, 33 HCĐ) và 03 giải quốc tế đạt 05 huy chương (02 HCV, 03 HCB). 4. Tình hình trật tự an toàn xã hội - An toàn giao thông Theo báo cáo của Ban ATGT tỉnh, tháng 8/2025 (Từ ngày 15/7/2025 đến 14/8/2025), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 29 vụ tai nạn giao thông, làm chết 15 người, bị thương 20 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn không tăng/giảm, số người chết giảm 21,05% (-04 người), số người bị thương tăng 53,84% (+07 người). Tất cả các vụ tai nạn giao thông đều xảy ra trên đường bộ. Lũy kế 8 tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 219 vụ tai nạn giao thông, làm chết 139 người, bị thương 146 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 23,69% (-68 vụ), số người chết giảm 5,44% (-08 người), số người bị thương giảm 30,48% (-64 người). Trong các vụ tai nạn xảy ra có 216 vụ tai nạn xảy ra trên đường bộ, 02 vụ đường sắt và 01 vụ đường thủy. - Tình hình cháy nổ Theo báo cáo của Công an tỉnh, trong tháng 8 xảy ra 02 vụ cháy (Trong đó: Có 01 vụ cháy rừng). Không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính 90,84 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy giảm 02 vụ, giá trị thiệt hại giảm 54,31 triệu đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2025, toàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ cháy (Trong đó: Có 01 vụ cháy rừng), với giá trị thiệt hại ước tính 279,94 triệu đồng, không có thiệt hại về người. - Tình hình thiên tai Trong tháng 8, trên địa bàn tỉnh xảy ra 2 vụ thiên tai. Ngày 13/8/2025, tại xã Tuyên Phú có 1 cơn lốc xoáy và mưa lớn đã làm 9 nhà tốc mái, thiệt hại 2 ha lúa. Giá trị thiệt hại ước tính 120 triệu đồng. Do ảnh hưởng của cơn bão số 5 - Kajiki, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra mưa lớn ngày 25/8/2025 gây một số thiệt hại tại các địa phương, cụ thể: 9 nhà bị tốc mái (xã Kim Phú 3 nhà; Tuyên Bình 1 nhà, Tuyên Hóa 1 nhà, 4 nhà xã Tuyên Lâm); 1 nhà tạm thiếu kiên cố bị sập ở xã Tuyên Lâm. Diện tích lúa bị đổ, ngã, ngập úng: 2.536 ha (các xã bị thiệt hại nặng: xã Hòa Trạch 523 ha, Bắc Trạch 275 ha, Tuyên Hóa 235ha, Vĩnh Thủy 219 ha, Nam Ba Đồn 150 ha, Hoàn Lão 100 ha, Tuyên Bình 69 ha). Diện tích hoa màu bị thiệt hại: 61,6 ha (xã Tuyên Bình 38,1 ha; Quảng Trạch 23,5 ha). Giá trị thiệt hại đang còn thống kê. 5. Tình hình nổi bật khác về xã hội Sau gần 2 tháng thực hiện chủ trương sáp nhập tỉnh, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đời sống cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, công nhân trên địa bàn đã ổn định trở lại. Cán bộ công tác xa nhà đã ổn định tư tưởng, tập trung cho công việc. Tình hình quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; công tác an sinh xã hội và xoá đói giảm nghèo được quan tâm, việc chi trả chế độ trợ cấp thường xuyên cho các đối tượng người có công và bảo trợ xã hội luôn kịp thời. Công tác quản lý thị trường và giá cả được tăng cường, nhằm bảo đảm sự cân đối giữa cung và cầu hàng hóa thiết yếu, góp phần ổn định đời sống của người dân. Sáng ngày 26/8/2025, Ban Chỉ đạo (BCĐ) Trung ương triển khai xóa nhà tạm, nhà dột nát (XNT, NDN) trên phạm vi cả nước đã tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết Chương trình và Phong trào thi đua “Cả nước chung tay XNT, NDN trong năm 2025”. Tại tỉnh Quảng Trị, toàn tỉnh có 5.438 NT, NDN của hộ nghèo, hộ cận nghèo (gồm 2 đợt), trong đó có 3.560 nhà cần xây mới và 1.878 nhà cải tạo, sửa chữa. Đến ngày 21/8/2025, Chương trình hỗ trợ XNT, NDN cho hộ nghèo, hộ cận nghèo có 5.438/5.438 nhà đã khởi công, đạt tỷ lệ 100% và phấn đấu đến ngày 30/8/2025 hoàn thành theo yêu cầu của BCĐ Trung ương./.