(052) 3822054 | quangtri@nso.gov.vn

Thông cáo báo chí về Tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Quảng Trị

08/07/2026 15:02

Năm 2026, tỉnh Quảng Trị phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP 10,6% theo Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, cùng các nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh. Trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026, việc triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình chính trị, kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; nhiều xung đột, chiến sự và bất ổn chính trị tại một số khu vực tiếp tục ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu. Bên cạnh đó, giá năng lượng, nguyên vật liệu, giá vàng và một số hàng hóa trên thị trường thế giới biến động mạnh; chi phí vận tải quốc tế duy trì ở mức cao, gây tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước cũng như trên địa bàn tỉnh.

Nhờ triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 của tỉnh Quảng Trị đạt nhiều kết quả tích cực. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển ổn định; sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng trưởng khá cao; hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch phục hồi tích cực. Môi trường đầu tư, kinh doanh từng bước được cải thiện; an sinh xã hội được đảm bảo; văn hóa và tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng cao. Quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

GRDP quý II năm 2026 ước tính tăng 8,07% (xếp thứ 21/34 tỉnh, thành phố) và 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,10% (xếp thứ 23/34 tỉnh, thành phố) so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng này đã thể hiện sự nỗ lực lớn của các cấp, các ngành và cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, tạo nền tảng quan trọng để tỉnh tiếp tục tập trung triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp trong những tháng cuối năm nhằm phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026. Kết quả cụ thể trên các lĩnh vực như sau:

I. KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế

Sáu tháng đầu năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước tính tăng 8,10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,94%, đóng góp 0,76 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,36% (công nghiệp tăng 10,88%, xây dựng tăng 12,01%), đóng góp 3,07 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,91%, đóng góp 3,95 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,58% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,32 điểm phần trăm trong tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh.

Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 18,65%; khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 27,33% (công nghiệp chiếm 14,34%, xây dựng chiếm 12,99%); khu vực dịch vụ chiếm 50,31%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 3,71%.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu 2026 đạt khá cao nhờ có sự đóng góp quan trọng của khu vực dịch vụ (khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 50,31% trong tổng số GRDP, đóng góp 3,95 điểm phần trăm vào tăng trưởng); đứng thứ hai về mức độ đóng góp là khu vực công nghiệp và xây dựng, đóng góp 3,07 điểm phần trăm; bên cạnh đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ.

2. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sáu tháng đầu năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều kết quả khả quan. Thời tiết tương đối thuận lợi cho sản xuất vụ Đông Xuân; vụ Đông Xuân năm nay ghi nhận một mùa vụ thắng lợi, được mùa, năng suất lúa đạt cao. Sản xuất chăn nuôi phát triển ổn định, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng khá so với cùng kỳ năm trước; công tác giám sát dịch bệnh được tăng cường, các trường hợp phát sinh nhỏ lẻ được phát hiện và xử lý kịp thời, không để lây lan diện rộng. Sản xuất lâm nghiệp đẩy mạnh công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác gỗ từ rừng trồng; tăng cường công tác quản lý, phòng cháy, chữa cháy rừng. Nuôi trồng, khai thác thủy sản phát triển khá; bà con ngư dân tích cực vươn khơi bám biển duy trì sản xuất; công tác quản lý tàu cá, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định IUU được tăng cường.

a) Nông nghiệp

* Trồng trọt

- Sản xuất vụ Đông Xuân

Diện tích gieo trồng vụ Đông Xuân năm nay ước tính thực hiện 85.347,7 ha, giảm 0,1% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây lúa 55.603,7 ha, tăng 0,2%; ngô 7.167,2 ha, tăng 0,9%; khoai lang 2.921,8 ha, giảm 8,3%; lạc 5.178 ha, giảm 2,4%; rau các loại 8.077,1 ha, giảm 0,1%; đậu các loại 1.017,1 ha, tăng 5,2% so với vụ Đông Xuân năm trước.

Thời tiết tương đối thuận lợi, bà con nông dân gieo trồng đúng khung lịch thời vụ, công tác thủy lợi, tưới, tiêu nước được đảm bảo, công tác phòng ngừa sâu bệnh thực hiện tốt nên vụ Đông Xuân năm nay được đánh giá là được mùa toàn diện, năng suất các loại cây trồng chủ yếu đều đạt cao.

Ước tính năng suất một số cây trồng chủ yếu vụ Đông Xuân: Cây lúa đạt 63,90 tạ/ha, tăng 6,2%; ngô đạt 53,00 tạ/ha, tăng 1,1%; khoai lang đạt 84,20 tạ/ha, tăng 1,3%; lạc đạt 23,30 tạ/ha, tăng 0,5%; rau các loại đạt 112,38 tạ/ha, tăng 1,2%; đậu các loại đạt 11,62 tạ/ha, tăng 2,3% so với vụ Đông Xuân năm trước.

Sản lượng lương thực vụ Đông Xuân năm nay ước đạt 393.469,2 tấn, tăng 5,9% so với vụ Đông Xuân năm trước. Trong đó: Sản lượng lúa đạt 355.307,4 tấn, tăng 6,4% so với năm trước; sản lượng lương thực khác đạt 38.161,8 tấn, tăng 1,9% so với vụ Đông Xuân năm trước.

Sản lượng một số cây trồng chủ yếu vụ Đông Xuân: Ngô ước đạt 37.986,0 tấn, tăng 2%; khoai lang đạt 24.601,7 tấn, giảm 7,1%; lạc đạt 12.064,8 tấn, giảm 1,9% (nguyên nhân sản lượng giảm do diện tích gieo trồng giảm); rau các loại đạt 90.770,3 tấn, tăng 1,1%; đậu các loại 1.181,9 tấn, tăng 7,7% (sản lượng đậu tăng mạnh do tăng diện tích gieo trồng) so với vụ Đông Xuân năm trước.

- Triển khai sản xuất vụ Hè Thu năm 2026

Ngay sau khi hoàn thành thu hoạch lúa và các loại cây hàng năm khác vụ Đông Xuân, các địa phương tập trung vào việc triển khai sản xuất vụ Hè Thu đảm bảo đúng lịch thời vụ. Ước tính đến ngày 30/6/2026, diện tích gieo trồng lúa vụ Hè Thu thực hiện 45.833,2 ha, giảm 1,4% so với vụ Hè Thu năm trước; ngô 1.401 ha, giảm 2,0%; khoai lang 608 ha, giảm 4,9%; sắn 19.995 ha, giảm 1,0%; lạc 508 ha, giảm 6,7%; rau, đậu các loại ước trồng 4.073 ha, tăng 0,9% so với vụ Hè Thu năm trước.

- Sản xuất cây lâu năm

Trong 6 tháng đầu năm 2026, thời tiết tuy có nắng nóng song vẫn có nhiều đợt mưa, đã tạo điều kiện thuận lợi cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Các địa phương tập trung chăm sóc và chuyển đổi trồng một số loại cây ăn quả có giá trị cao như na Đài Loan, ổi Lê Đài Loan, mít Thái; đồng thời tiếp tục cải tạo diện tích đất vườn tạp tận dụng trồng cây ăn quả.

Tổng diện tích cây lâu năm hiện có 47.595,2 ha, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây lâu năm chia theo các nhóm cây như sau: Cây ăn quả 10.094,7 ha, tăng 1,0%; cây lấy quả chứa dầu 79,3 ha, giảm 1,5%; cây điều 1 ha, giảm 16,7%; cây hồ tiêu 3.011 ha, giảm 4,3%; cây cao su 30.120,8 ha, giảm 1,0%; cà phê 3.708,5 ha, tăng 0,04%; cây chè 370,5 ha, tăng 1,5%; cây gia vị, cây dược liệu lâu năm 78,3 ha, tăng 0,3%; cây lâu năm khác 131,1 ha, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính sản lượng một số cây trồng chủ yếu 6 tháng đầu năm 2026: Cao su 17.855 tấn, tăng 2,6%; hồ tiêu 3.264 tấn, tăng 0,3%; chuối 55.028,2 tấn, tăng 2,7%; cam 1.097 tấn, tăng 2,4%; bưởi 895 tấn, tăng 2,1%; dứa 2.094 tấn, tăng 1,6%; mít 2.265 tấn, tăng 2,8%; nhãn 361 tấn, giảm 2,2%; vải 372 tấn, tăng 1,0%; xoài 566 tấn, tăng 2,0% so với cùng kỳ năm trước. Thời tiết tương đối thuận lợi, sâu bệnh ít, diện tích cho sản phẩm tăng nên sản lượng đa số các loại cây trồng đều tăng so với cùng kỳ năm trước.

* Chăn nuôi

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chăn nuôi tiếp tục là một trong những lĩnh vực đóng góp quan trọng vào tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Mặc dù chịu tác động của chi phí thức ăn chăn nuôi và các vật tư đầu vào còn ở mức cao, song hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn đạt kết quả tích cực nhờ thị trường tiêu thụ tương đối thuận lợi, giá bán các sản phẩm chăn nuôi duy trì ở mức có lãi và công tác phòng, chống dịch bệnh được thực hiện hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo động lực để người dân duy trì, mở rộng quy mô chăn nuôi.

Ước tính tổng đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh thời điểm 30/6/2026: đàn trâu có 45.950 con, giảm 8,5%; đàn bò có 140.108 con, giảm 6%; đàn lợn có 477.944 con, giảm 0,8%; đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) có 10.015,9 nghìn con, tăng 1,1% (riêng đàn gà 8.345,9 nghìn con, tăng 1,2%)  so với cùng thời điểm năm trước.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý II/2026 ước đạt 40.940,1 tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu đạt 600 tấn, giảm 1,8%; thịt bò đạt 3.234 tấn, tăng 5%; thịt lợn đạt 25.006,9 tấn, tăng 4,5%; thịt gia cầm đạt 12.099,2 tấn, tăng 5,1% (riêng thịt gà 9.455,7 tấn, tăng 5,6%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm quý II/2026 ước đạt 48.903,8 nghìn quả, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 82.106 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu đạt 1.266 tấn, giảm 1,3%; thịt bò đạt 6.465 tấn, tăng 5,4%; thịt lợn đạt 49.749,9 tấn, tăng 3,8%; thịt gia cầm ước đạt 24.625,1 tấn, tăng 5% (riêng thịt gà đạt 18.875,1 tấn, tăng 5,6%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 97.811,9 nghìn quả, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm:

- Bệnh Viêm da nổi cục trên trâu bò: Trong tháng 6, phát sinh 1 con bò chết ngày 03/6/2026 tại xã Tuyên Phú (con bò này đã mắc bệnh và báo từ đợt trước). Lũy kế đến ngày 23/6/2026, tổng số bò mắc bệnh tại xã Tuyên phú là 9 con/9 hộ/4 thôn, trong đó có 5 con chết, trọng lượng 1.140kg, 4 con còn lại đã được điều trị lành. Hiện ổ dịch đã qua 21 ngày kể từ ngày con bò mắc bệnh được điều trị lành.

- Bệnh Cúm gia cầm A/H5N1: Trong tháng phát sinh 2 ổ dịch Cúm gia cầm H5N1/2 xã, phường (Ninh Châu và Nam Đông Hà), số vịt mắc bệnh, tiêu hủy 8.000 con. Lũy kế đến ngày 23/6/2026, toàn tỉnh có 3 ổ dịch Cúm gia cầm H5N1 tại 3 xã, phường (Trường Ninh, Ninh Châu và Nam Đông Hà), tổng số vịt mắc bệnh, tiêu hủy là 10.700 con. Hiện nay, 2/3 ổ dịch đã qua 21 ngày (Trường Ninh và Ninh Châu).

- Bệnh Tai xanh ở lợn: Trong tháng phát sinh 1 ổ dịch Tai xanh lợn ở xã Ái Tử, số lợn mắc bệnh 7 con trong đó có 3 con chết. Lũy kế đến ngày 23/6/2026, toàn tỉnh có 1 ổ dịch Tai xanh lợn ở xã Ái Tử, số lợn mắc bệnh 7 con, trong đó có 3 con chết. Hiện ổ dịch đã qua 21 ngày [1].

b) Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 duy trì ổn định, các địa phương tiếp tục trồng rừng mới tập trung theo kế hoạch, nhằm hoàn thành kế hoạch trồng rừng và trồng cây phân tán năm 2026. Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác gỗ từ rừng trồng được đẩy mạnh; quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng được tăng cường.

Ước tính diện tích rừng trồng mới tập trung quý II/2026 đạt 5.461,0 ha, tăng 5,1%; 6 tháng đầu năm 2026 đạt 8.753,0 ha, tăng 2,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng quý II/2026 ước đạt 726.607,0 m3, tăng 9,9%; 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.151.967,0 m3, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác quý II/2026 ước đạt 219.326,0 ste, giảm 2,0%; 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 282.068,0 ste, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước.

Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 8 vụ cháy rừng (tháng 6 có 4 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại là 7,3 ha. Hiện nay, thời tiết đang mùa nắng nóng gay gắt, các ngành chức năng đã xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm đôn đốc chủ rừng đẩy nhanh công tác vệ sinh rừng, xử lý thực bì phục vụ phòng cháy rừng trong mùa nắng nóng.

c) Thủy sản

Sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì sự phát triển ổn định, sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản tăng. Thời tiết cơ bản thuận lợi cho hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản; nguồn lợi thủy sản xuất hiện khá tại một số ngư trường; giá bán một số sản phẩm thủy sản tương đối ổn định, tạo động lực cho người dân tăng cường khai thác và mở rộng diện tích nuôi. Tuy nhiên, giá nhiên liệu, thức ăn thủy sản, vật tư đầu vào vẫn ở mức cao làm tăng chi phí sản xuất; nguồn lợi thủy sản ven bờ suy giảm, hiệu quả khai thác chưa ổn định; đầu ra và giá tiêu thụ các mặt hàng thủy sản còn biến động đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của người dân, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản.

Sản lượng thủy sản quý II/2026 ước đạt 39.678,5 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá ước đạt 31.739,0 tấn, tăng 3,1%; tôm ước đạt 2.644,5 tấn, tăng 2,5%; thủy sản khác ước đạt 5.295,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 70.387,9 tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá ước đạt 56.646,0 tấn, tăng 2,8%; tôm ước đạt 4.960,9 tấn, tăng 2,5%; thủy sản khác ước đạt 8.781,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.

* Khai thác

Sản lượng khai thác thủy sản quý II/2026 ước đạt 33.921,5 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá ước đạt 28.140,0 tấn, tăng 3,0%; tôm ước đạt 673,5 tấn, tăng 1,9%; thủy sản khác ước đạt 5.108,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 59.098,9 tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 49.550,0 tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 1.121,9 tấn, tăng 1,7%; thuỷ sản khác đạt 8.427,0 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.

* Nuôi trồng

Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý II/2026 ước đạt 5.757,0 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá ước đạt 3.599,0 tấn, tăng 3,2%; tôm ước đạt 1.971,0 tấn, tăng 2,7%; thuỷ sản khác ước đạt 187,0 tấn, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 11.289,0 tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 7.096,0 tấn, tăng 3,1%; tôm đạt 3.839,0 tấn, tăng 2,7%; thủy sản khác đạt 354,0 tấn, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước.

3. Công nghiệp

Tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tiếp tục duy trì ổn định và đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp ổn định hơn, nhu cầu thị trường được cải thiện và năng lực sản xuất được phát huy hiệu quả.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý II năm 2026 ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 7,4%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,6%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 7,2%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong 6 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước: Quặng titan đạt 11.745 tấn, giảm 6,5%; đá xây dựng đạt 1.453.962 m3, tăng 6,0%; cao lanh đạt 30.827 tấn, giảm 44,1%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 9.044 tấn, giảm 49,4%; tinh bột sắn đạt 23.442 tấn, giảm 60,3%; bia đóng chai đạt 3.099 nghìn lít, tăng 24,4%; bia đóng lon đạt 20.191 nghìn lít, tăng 19,8%; nước khoáng đạt 1.038 nghìn lít, tăng 31,3%; áo quần các loại (trừ áo sơ mi người lớn) đạt 20.538 nghìn cái, tăng 12,2%; áo sơ mi đạt 7.072 nghìn cái, tăng 6,2%; dăm gỗ đạt 768.590 tấn, tăng 77,2%; ván ép từ gỗ đạt 130.955 m3, giảm 4,4%; viên gỗ đạt 23.536 tấn, tăng 6,0%; giấy Kraft đạt 3.530 tấn, giảm 3,5%; cao su tổng hợp và cao su tự nhiên đạt 795 tấn, tăng 114,1%; kính cường lực đạt 1.939 tấn, tăng 43,5%; clinker thành phẩm đạt 1.249.832 tấn, giảm 4,2%; xi măng đạt 718.253 tấn, giảm 2,4%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) đạt 304.743 m3, giảm 2,1%; thủy điện đạt 243 triệu kwh, giảm 19,7%; điện gió đạt 1.279 triệu kwh, giảm 15,1%; điện mặt trời đạt 283 triệu kwh, tăng 12,9%; điện thương phẩm đạt 1.138 triệu kwh, tăng 11,2%; nước máy thương phẩm đạt 16.442 nghìn m3, tăng 8,4%.

4. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

- Đăng ký kinh doanh doanh nghiệp:

Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thực hiện cấp đăng ký thành lập mới giấy chứng nhận đăng ký cho 809 doanh nghiệp với số vốn hơn 6.800 tỷ đồng. Đến nay, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế khoảng 10.564 doanh nghiệp.

Về lĩnh vực kinh tế tập thể, hợp tác xã, trên địa bàn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhiều mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã hoạt động hiệu quả và ngày càng được nhân rộng. Trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh thành lập mới 15 hợp tác xã, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Tính đến nay, toàn tỉnh có 04 liên hiệp hợp tác xã; 900 hợp tác xã đang hoạt động với tổng số thành viên 223.768 người, thu hút trên 8.762 lao động. Tổng số vốn hoạt động 12.518 tỷ đồng; Thu nhập bình quân đạt 3,5 - 4 triệu đồng/người/tháng; Các Quỹ tín dụng nhân dân tiếp tục kịp thời hỗ trợ vốn cho các thành viên để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, tạo việc làm tại chỗ, góp phần xây dựng nông thôn mới và hạn chế “tín dụng đen” trên địa bàn nông thôn. Có 48 hợp tác xã ngừng hoạt động chờ giải thể.

- Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp:

Dựa trên kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của một số doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn trong quý II năm 2026 cho thấy có 67,5% số doanh nghiệp nhận định rằng hoạt động sản xuất kinh doanh quý II năm 2026 ổn định và tốt hơn so với quý I năm 2026 (trong đó, có 24,4% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và có 43,1% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định) và có 32,5% doanh nghiệp cho rằng hoạt động sản xuất kinh doanh quý II năm 2026 khó khăn hơn so với quý I năm 2026. Dự báo quý III năm 2026, có 75,6% doanh nghiệp dự báo hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý III/2026 tốt hơn và giữ ổn định so với quý II năm 2026 (trong đó, có 31,7% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và có 43,9% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định), chỉ có 24,4% doanh nghiệp dự báo đến quý III năm 2026, tình hình sản xuất kinh doanh sẽ còn tiếp tục khó khăn hơn so với quý II năm 2026.

5. Vốn đầu tư

Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý và vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn: Trong quý II năm 2026 vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh ước đạt 18.577,0 tỷ đồng, tăng 31,3% so với quý trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh đạt 32.725,9 tỷ đồng, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước đạt 10.689,3 tỷ đồng, tăng 3,8%; khu vực ngoài nhà nước đạt 22.560,3 tỷ đồng, tăng 22,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 476,3 tỷ đồng, tăng 218,8% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Trị tăng cao chủ yếu do một số dự án đang triển khai thực hiện như Dự án Nhà máy Điện gió Quảng Trị Win 1; Dự án Nhà máy Điện gió Quảng Trị Win 2; Dự án Khu công nghiệp Quảng Trị.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý: Trong tháng 6 năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý ước đạt 888,1 tỷ đồng, tăng 28,4% so với tháng trước và tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý ước đạt 2.891,1 tỷ đồng, giảm 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn NSNN cấp tỉnh đạt 2.559,8 tỷ đồng, giảm 14,4%; vốn NSNN cấp xã đạt 331,3 tỷ đồng, tăng 70,4% so với cùng kỳ năm trước.

6. Thương mại, dịch vụ

a) Tổng mức bán lẻ hàng hoá

Trong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn ra sôi động. Nguồn cung hàng hóa ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân. Bước vào mùa du lịch hè cao điểm, lượng khách du lịch tăng đã kéo theo nhu cầu mua sắm, ăn uống, lưu trú, vui chơi giải trí tăng so với tháng trước. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp, siêu thị và cơ sở kinh doanh triển khai các chương trình khuyến mại, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng, góp phần thúc đẩy sức mua trên thị trường. Nhờ đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội địa phương.

Quý II/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước giảm 0,3% so với quý trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ đó là: Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 12,9%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 13,0%; nhóm ô tô các loại ước tăng 14,9%; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước tăng 15,5%; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy ước tăng 16,0% so với cùng kỳ.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 11,6% so với cùng kỳ, trong đó nhóm lương thực, thực phẩm là nhóm chiếm tỷ trọng lớn, có tốc độ tăng cao 11,8% đóng góp tăng cao nhất 4,1 điểm phần trăm; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,3% đóng góp tăng 1,9 điểm phần trăm; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước tăng 11,3% đóng góp tăng 1,6 điểm phần trăm; nhóm xăng, dầu các loại tăng 11,5% đóng góp tăng 1,5 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa.

b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành

Sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Nhiều lễ hội, sự kiện văn hóa - du lịch được tổ chức với quy mô lớn, chất lượng phục vụ được nâng cao, thu hút lượng lớn khách du lịch đến tham quan và trải nghiệm. Nổi bật là các hoạt động chào Xuân Bính Ngọ, lễ hội đầu năm, các hoạt động trong dịp nghỉ lễ 30/4 - 01/5 như Tuần Văn hóa - Du lịch Quảng Trị 2026, Lễ hội ẩm thực Regal Legend và bia Camel, Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa, Lễ Thượng cờ “Thống nhất non sông”, các lễ hội ẩm thực, thể thao, chương trình nghệ thuật và hoạt động trải nghiệm du lịch cộng đồng. Đồng thời, các hoạt động quảng bá, kích cầu du lịch được đẩy mạnh, kết hợp với thời tiết thuận lợi và nhu cầu du lịch hè gia tăng đã tạo động lực thúc đẩy ngành du lịch tiếp tục khởi sắc.

Các điểm du lịch lịch sử, sinh thái, nghỉ dưỡng biển và đảo như Cồn Cỏ, Cửa Tùng - Cửa Việt cùng các tuyến du lịch hang động như Hang Sơn Đoòng, Hang Én, Hang Chỉ Huy,… tiếp tục thu hút đông đảo du khách tham quan, trải nghiệm. Đồng thời, việc mở rộng các sản phẩm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và khám phá thiên nhiên đã góp phần kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng mức chi tiêu của du khách và thúc đẩy doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành tăng cao so với cùng kỳ năm trước.

- Dịch vụ lưu trú: Doanh thu dịch vụ lưu trú quý II/2026 tăng 50,7% so với quý trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ; tính chung 6 tháng đầu năm 2026 tăng 17,1% so với cùng kỳ. Số lượt khách lưu trú quý II/2026 tăng 39,2% so với quý trước và tăng 19,4% so với cùng kỳ; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 16,7% so với cùng kỳ. Ngày khách quý II/2026 tăng 48,1% so với quý trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 15,8% so với cùng kỳ.

- Dịch vụ ăn uống: Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 6/2026 tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 19,0% so với cùng kỳ; quý II/2026 tăng 10,4% so với quý trước và tăng 19,4% so với cùng kỳ; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 17,1% so với cùng kỳ.

- Du lịch lữ hành:Doanh thu hoạt động lữ hành quý II/2026 tăng 67,6% so với quý trước và tăng 19,2% so với cùng kỳ; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 16,9% so với cùng kỳ. Số lượt khách du lịch lữ hành quý II/2026 tăng 46,3% so với quý trước và tăng 18,9% so với cùng kỳ; 6 tháng đầu năm 2026 tăng 15,5% so với cùng kỳ.

c) Các ngành kinh doanh dịch vụ

Sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động du lịch và xây dựng trên địa bàn tiếp tục phát triển tích cực, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh doanh dịch vụ tăng trưởng khá. Lượng khách du lịch tăng đã kéo theo nhu cầu sử dụng các dịch vụ vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, ăn uống và chăm sóc sức khỏe gia tăng. Các khu vui chơi giải trí, nhà hàng, quán bar và các điểm dịch vụ phục vụ du lịch thu hút đông khách, nhất là trong các dịp lễ và mùa cao điểm du lịch hè. Đồng thời, hoạt động xây dựng dân dụng và hạ tầng diễn ra sôi động làm tăng nhu cầu đối với các dịch vụ hỗ trợ như san lấp mặt bằng, cho thuê máy móc thiết bị, vệ sinh công trình và cung ứng lao động thời vụ. Nhờ đó, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng khá so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ quý II/2026 ước tăng 3,7% so với quý trước và tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động dịch vụ tiếp tục duy trì đà phục hồi ổn định, nhất là các ngành gắn với du lịch, tiêu dùng và xây dựng.

Sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ ước tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 7,7%, đóng góp tăng 2,0 điểm phần trăm vào mức tăng chung; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 9,2%, đóng góp tăng 2,8 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 6,9%, đóng góp tăng 0,3 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 8,8%, đóng góp tăng 0,7 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 8,4%, đóng góp tăng 0,8 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ khác tăng 14,0%, đóng góp tăng 3,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành kinh doanh dịch vụ.

d) Hoạt động vận tải

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 12,1% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách ước tăng 12,0%; vận tải hàng hóa ước tăng 12,4%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 11,7% so với cùng kỳ.

Ước tính quý II/2026, số lượt hành khách vận chuyển tăng 2,0% so với quý trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 2,0% so với quý trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ.Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, số lượt hành khách vận chuyển ước tăng 11,9%; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 12,0% so với cùng kỳ.

Ước tính quý II/2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 1,0% so với quý trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 1,0% so với quý trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tăng 12,3% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 12,5% so với cùng kỳ.

đ) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh theo diễn biến của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới. Bên cạnh đó, thời tiết nắng nóng kéo dài làm nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt tăng cao, góp phần làm tăng giá một số nhóm hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, giá gạo giảm do bước vào thời kỳ thu hoạch, nguồn cung trên thị trường dồi dào. Những biến động trái chiều giữa các nhóm hàng hóa và dịch vụ đã tác động đến mặt bằng giá tiêu dùng trên địa bàn tỉnh. Kết quả, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2026 giảm 0,34% so với tháng trước; tăng 3,17% so với tháng 12 năm trước và tăng 3,94% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, CPI tháng 6/2026 giảm 0,34%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá, 2 nhóm giảm giá, 1 nhóm hàng ổn định. Cụ thể 8 nhóm hàng hóa tăng giá gồm nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,07%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,10%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,35%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm giáo dục tăng 0,01%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18%. Nhóm hàng hóa giảm giá gồm nhóm giao thông giảm 3,51%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,04%. Nhóm hàng ổn định: nhóm bưu chính viễn thông.

Chỉ số giá vàng 99,99%: Giá vàng bình quân tháng 6/2026 giảm 7,75% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 14,116 triệu đồng/chỉ vàng 9999, tăng 80,08% so với kỳ gốc 2024, bình quân 6 tháng tăng 53,52% so với cùng kỳ.C

hỉ số giá đô la Mỹ (USD): Giá đô la Mỹ (USD) bình quân tháng 6/2026 là 26.414 VNĐ/USD, tăng 0,15% so với tháng trước, tăng 6,54% so với kỳ gốc 2024, bình quân 6 tháng tăng 3,22% so với cùng kỳ.

II. XÃ HỘI

1. Y tế

Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành y tế tỉnh Quảng Trị đã tập trung triển khai hiệu quả công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tình hình dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, không ghi nhận các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm A, các ổ dịch phát sinh được phát hiện, xử lý kịp thời, không để lây lan diện rộng. Tính từ đầu năm đến ngày 20/6/2026, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 133 trường hợp sốt xuất huyết; 213 trường hợp tay - chân - miệng; 1.382 trường hợp cúm; 258 trường hợp thủy đậu; 542 trường hợp tiêu chảy; 3 ca sởi; các trường hợp bệnh đều được phát hiện và điều trị kịp thời.

Công tác an toàn thực phẩm được tăng cường, các cơ quan chức năng đẩy mạnh kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh và chế biến thực phẩm. Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm tại xã Tân Lập, phường Đồng Hới, phường Đồng Thuận làm 150 người mắc, 104 người được điều trị tại các cơ sở y tế, không có trường hợp tử vong.

Công tác phòng, chống HIV/AIDS tiếp tục được duy trì và triển khai hiệu quả. Tính đến ngày 20/6/2026, toàn tỉnh có 928 người nhiễm HIV được phát hiện, trong đó 284 người đã tử vong và 644 người đang còn sống. Nam giới chiếm 64,8% tổng số người nhiễm HIV, cao hơn nữ giới (35,2%). Trong 6 tháng đầu năm 2026, phát hiện 16 trường hợp nhiễm HIV, cập nhật 11 trường hợp nhiễm HIV/AIDS tử vong.

2. Giáo dục, đào tạo

Năm học 2025 - 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị tiếp tục triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở các cấp học; đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh và đạt nhiều kết quả tích cực.

Giáo dục mầm non tiếp tục được củng cố, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ; duy trì vững chắc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, tăng cường công tác bảo đảm an toàn trường học. Giáo dục tiểu học triển khai hiệu quả chương trình mới, chú trọng nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh, tin học, kỹ năng sống và các hoạt động giáo dục toàn diện.

Giáo dục trung học đạt nhiều kết quả nổi bật: Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp tỉnh năm học 2025 - 2026 có 332 dự án tham gia; tại Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia, học sinh Quảng Trị đạt 6 giải (02 giải Nhì, 02 giải Ba, 02 giải Tư). Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT có 114/174 học sinh đạt giải (65,5%), gồm 01 giải Nhất, 32 giải Nhì, 37 giải Ba và 44 giải Khuyến khích. Kỳ thi học sinh giỏi lớp 9 và tuyển sinh học sinh giỏi lớp 12 tiếp tục đạt tỷ lệ giải cao.

Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026 - 2027 được tổ chức với hơn 25.000 thí sinh đăng ký dự thi, thực hiện theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, với các phương thức tuyển sinh phù hợp. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 là kỳ thi đầu tiên thực hiện hoàn toàn theo chương trình mới, toàn tỉnh có khoảng 22.000 thí sinh dự thi tại hơn 60 điểm thi, được chuẩn bị chu đáo, bảo đảm an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế.

Về đào tạo, năm học 2026 - 2027, Trường Đại học Quảng Bình tuyển sinh 910 chỉ tiêu hệ đại học (735 chỉ tiêu chính quy, 175 chỉ tiêu vừa học vừa làm), đồng thời tuyển sinh 550 chỉ tiêu đào tạo từ xa; tiếp tục triển khai công tác tuyển sinh đại học năm 2026.

3. Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao

Trong 6 tháng đầu năm 2026, lĩnh vực văn hóa của tỉnh Quảng Trị được triển khai đồng bộ, gắn với nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Công tác tuyên truyền, cổ động các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương được tổ chức hiệu quả; nổi bật là các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân, kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và tổ chức Lễ Thượng cờ “Thống nhất non sông” tại Di tích quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải.

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được quan tâm; tỉnh đã triển khai các nhiệm vụ về bảo vệ di tích, sưu tầm hiện vật, xây dựng các đề án phát huy giá trị di sản, đồng thời chuẩn bị các điều kiện tổ chức Lễ hội Vì Hòa bình năm 2026 nhằm quảng bá hình ảnh đất và người Quảng Trị.

Lĩnh vực thể dục, thể thao của tỉnh Quảng Trị tiếp tục phát triển, phong trào thể dục thể thao quần chúng được đẩy mạnh gắn với Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Tỉnh đã tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2026, Lễ phát động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước; tổ chức tập huấn chuyên môn cho lực lượng hướng dẫn viên, cứu hộ bơi và triển khai các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Thể dục thể thao Việt Nam.

Các giải thể thao quần chúng được tổ chức sôi nổi, tiêu biểu là Giải đua thuyền truyền thống “Lễ hội Thống nhất non sông” trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Quảng Trị lần thứ I (2025 - 2026), góp phần tạo không khí thi đua, nâng cao sức khỏe cộng đồng và phát triển phong trào thể thao trên địa bàn tỉnh.

Bên cạnh đó, công tác đào tạo, huấn luyện thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì; các vận động viên được tạo điều kiện tham gia thi đấu, rèn luyện, từng bước nâng cao thành tích, góp phần quảng bá hình ảnh Quảng Trị trong lĩnh vực thể thao. Tính từ đầu năm đến ngày 20/6/2026, các đội tuyển thể thao thành tích cao tham gia thi đấu 22 giải thể thao quốc gia và quốc tế, đạt 218 huy chương các loại, gồm 49 HCV, 61 HCB, 108 HCĐ. Trong đó, có 03 giải Quốc tế đạt 07 huy chương, gồm 01 HCV, 03 HCB, 03 HCĐ và 02 giải Xã hội hóa đạt 02 HCĐ.

4. Tình hình trật tự an toàn xã hội

- An toàn giao thông

Tình hình trật tự an toàn xã hội trong 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục được chú trọng; công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh được tăng cường. UBND tỉnh chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn giao thông, phục vụ nhu cầu đi lại của Nhân dân.

Trong quý II/2026 (Tính từ 15/04/2026 đến 14/06/2026), trên địa bàn tỉnh xảy ra 72 vụ tai nạn giao thông, tất cả đều xảy ra trên đường bộ; làm chết 52 người, bị thương 48 người. So với cùng kỳ năm trước, tình hình tai nạn giao thông giảm 11 vụ, giảm 02 người chết và giảm 14 người bị thương. Luỹ kế 6 tháng năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 137 vụ tai nạn giao thông, giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Đường bộ 136 vụ giảm 26 vụ, đường sắt 01 vụ. Số người chết do tai nạn giao thông 107 người, giảm 01 người so với cùng kỳ; số người bị thương do tai nạn giao thông 101 người, giảm 9 người so với cùng kỳ.

- Tình hình cháy nổ

Trong quý II trên địa bàn tỉnh xảy ra 24 vụ cháy, không có thiệt hại về người, tổng thiệt hại về tài sản ước tính khoảng 2.945 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy tăng 09 vụ. Theo báo cáo của Công an tỉnh, 6 tháng năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 27 vụ cháy, tăng 16 vụ, với tổng giá trị thiệt hại 4.145,9 triệu đồng, giảm 18,06% so với cùng kỳ.

5. Tình hình nổi bật khác về xã hội

a) Lao động việc làm

Công tác giải quyết việc làm cho người lao động là nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng góp phần đảm bảo an sinh xã hội và tăng thu nhập cho người lao động. Tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng tiếp tục tổ chức rà soát nhu cầu về đào tạo nghề và việc làm để xây dựng kế hoạch đào tạo, cũng như tìm kiếm việc làm. Ban hành các Chương trình hành động giải quyết việc làm với mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Khuyến khích người dân vay vốn đi lao động ở nước ngoài. Chính sách hỗ trợ vay vốn tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm được triển khai thường xuyên, liên tục, số lượng khách hàng vay vốn nhiều, nhiều lao động được tiếp cận và thụ hưởng chính sách.

UBND tỉnh vừa ban hành Kế hoạch số 2482/KH-UBND ngày 27/5/2026 về việc thực hiện Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh”. Mục tiêu đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn, phấn đấu rút ngắn khoảng cách về tỷ lệ lao động qua đào tạo giữa khu vực nông thôn và thành thị, lấy người dân làm chủ thể phục vụ xây dựng nông thôn mới bền vững.

b) Công tác an sinh xã hội

Trong quý II/2026, công tác an sinh xã hội luôn được chú trọng, đặc biệt là các đối tượng người nghèo, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người cao tuổi, đối tượng yếu thế trong xã hội. Giải quyết trợ cấp hàng tháng cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng là 309.289 triệu đồng, giảm 0,81% (-2.539 triệu đồng) so với quý trước, nguyên nhân giảm là do đối tượng người có công hàng tháng chết nên giảm chi trả. Hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP là 277.767,6 triệu đồng, tăng hơn cùng kỳ năm trước 6,6%. Cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) là 801.151 thẻ, tăng 21,47% (+141.615 thẻ) so với quý trước, tăng 54,78% (283.535 thẻ) so với cùng kỳ năm trước. Số thẻ BHYT cấp cho các đối tượng được ngân sách hỗ trợ/miễn phí tăng, chủ yếu do mở rộng nhóm đối tượng là người sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định 668 của tỉnh. Theo đó, toàn tỉnh được phê duyệt có 34 xã thuộc vùng III, làm gia tăng số lượng người thuộc diện được cấp thẻ BHYT.

Tóm lại, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026 có xu hướng phát triển tích cực, đạt được những kết quả đáng ghi nhận; kinh tế ổn định và tăng trưởng khá, GRDP 6 tháng đầu năm ước tính tăng 8,10%; sản xuất vụ Đông Xuân được mùa; hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định; sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá; du lịch tăng trưởng nhanh. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động từ tình hình chính trị, kinh tế trên thế giới và trong nước đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong thời gian tới, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các cấp, ngành và địa phương tiếp tục triển khai hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP 10,6%. Theo đó, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

- Quyết liệt triển khai hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thị, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; theo dõi, rà soát các chỉ tiêu để tham mưu tập trung chỉ đạo tạo chuyển biến toàn diện, tích cực lĩnh vực kinh tế; tiếp tục triển khai các nhiệm vụ trọng tâm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và chủ động linh hoạt thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với điều kiện từng ngành, lĩnh vực, địa phương nhằm giải quyết căn cơ, có hiệu quả, cụ thể các yếu kém, điểm nghẽn, tập trung hỗ trợ các thành phần kinh tế đẩy mạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

- Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và vốn các chương trình mục tiêu quốc gia; tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước; nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách gắn với trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.

- Thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp góp phần tăng thu ngân sách, đặc biệt là các nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn, nguồn thu còn tiềm năng; tiếp tục triển khai các giải pháp chống thất thu ngân sách, thu hồi nợ thuế.

- Tập trung hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông kết nối các hành lang kinh tế Đông - Tây, phát huy lợi thế cảng biển và cửa khẩu quốc tế. Hạ tầng được xem là nền tảng tạo không gian phát triển mới, thu hút đầu tư và mở rộng thị trường.

- Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ các loại quy hoạch phục vụ công tác xúc tiến đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án trọng điểm, các dự án có tính động lực, có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế.

- Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên cả “3 trụ cột” là chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển.

- Tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn, khó khăn vướng mắc liên quan đến cơ chế, chính sách, quy định hiện hành để huy động tối đa các nguồn lực, tích cực tìm kiếm và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới.

- Tăng cường bảo đảm quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, tư pháp gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; tập trung xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số và xã hội số; Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, đẩy mạnh thông tin đối ngoại và hợp tác quốc tế.

- Tiếp tục sắp xếp bộ máy đảm bảo “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”. Tập trung cải cách hành chính mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh.

- Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo đảm tốt hơn an sinh và phúc lợi xã hội./.


[1] Nguồn: Báo cáo số 481/BC-CNTY ngày 25/6/2026 của Chi cục Chăn nuôi và Thú y