(052) 3822054 | quangtri@nso.gov.vn

BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 02 NĂM 2026

20/05/2026 14:56

I. KINH TẾ

1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng 02/2026 diễn ra trong điều kiện thời tiết thuận lợi, trời nắng ấm, có mưa rải rác giúp cây trồng, vật nuôi sinh trưởng, phát triển tốt. Chăn nuôi phát triển ổn định, cung ứng đủ sản phẩm chăn nuôi trước, trong và sau Tết. Sản xuất lâm nghiệp tập trung thực hiện phong trào Tết trồng cây, trồng rừng vụ Xuân. Sản xuất thủy sản trong tháng đạt thấp do ngư dân nghỉ khai thác đón tết Nguyên đán Bính Ngọ.

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt

Thời tiết hai tháng đầu năm 2026 có mưa nhỏ, độ ẩm cao, khá thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông Xuân. Trong thời gian trước và sau Tết, các địa phương tranh thủ đẩy nhanh tiến độ nhằm đảm bảo đúng lịch thời vụ của ngành Nông nghiệp và Môi trường đã khuyến cáo. Theo đó, tiến độ gieo trồng các loại cây đảm bảo so với kế hoạch. Đến giữa tháng 02 (trước tết Nguyên đán), các địa phương đã cơ bản hoàn thành gieo trồng lúa Đông Xuân; các loại cây trồng khác như ngô, khoai lang, lạc, đậu, rau các loại,... tiếp tục thực hiện; dự kiến kết thúc gieo trồng vụ Đông Xuân vào cuối tháng 02.

Ước tính đến hết tháng 02, tiến độ gieo trồng các loại cây vụ Đông Xuân thực hiện 84.373 ha, giảm 1,3% so với vụ Đông Xuân năm trước. Cụ thể như sau:

- Cây lúa thực hiện 54.889,8 ha, giảm 1,1% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng lúa giảm mạnh ở một số địa phương như xã Cửa Việt, Gio Linh, Hiếu Giang do Nhà nước thu hồi diện tích đất phục vụ xây dựng hạ tầng đường cao tốc, sân bay; một số diện tích lúa các năm trước cho năng suất thấp, kém hiệu quả nên người dân chuyển sang trồng cây tràm với diện tích khoảng 170 ha.

- Các loại cây trồng khác thực hiện 29.483,2 ha, giảm 1,6% so với vụ Đông Xuân năm trước. Diện tích gieo trồng một số loại cây chủ yếu: Cây ngô 6.811,6 ha, giảm 4,1%; khoai lang 3.085,1 ha, giảm 3,2%; lạc 5.162,0 ha, giảm 2,7%; rau, đậu các loại 9.083,0 ha, tăng 0,3%; một số loại cây khác tổng diện tích ước tính 5.341,5 ha, tăng 0,4% so với vụ Đông Xuân năm trước.

Diện tích một số cây trồng giảm so với vụ Đông Xuân năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu như sau: Diện tích ngô giảm do giống ngô cao, trồng manh mún, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, năng suất thấp nên người dân bỏ hoang; diện tích lạc giảm do năng suất lạc trong những năm gần đây đạt thấp, không hiệu quả nên chuyển dần sang trồng các loại cây khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn; cây khoai lang cho hiệu quả kinh tế thấp nên người dân cũng giảm trồng.

Hình 1: Tiến độ gieo trồng một số cây hàng năm vụ Đông Xuân

Các loại cây trồng đang trong thời kỳ sinh trưởng, phát triển; tuy vậy, thời tiết về đêm nhiều sương, ngày nắng, độ ẩm cao là điều kiện để nhiều loại sâu, bệnh gây hại cây trồng xuất hiện. Tình hình sâu, bệnh gây hại cây trồng (đến ngày 25/02/2026) như sau:

- Cây lúa: Chuột gây hại tập trung ở các xã Hải Lăng, Nam Hải Lăng, Gio Linh, Vĩnh Thủy, Kim Phú, Bố Trạch với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 5%, nơi cao 10 - 20%, cục bộ trên 20%. Bệnh đạo ôn lá gây hại tập trung ở Hải Lăng, Nam Hải Lăng, Vĩnh Thủy với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 7%, nơi cao 10 - 20%, cục bộ 30 - 40%; cấp bệnh C1-3, C5; cục bộ nặng 1,5 ha trên các giống JO2, BĐR57. Ốc bươu vàng gây hại tập trung ở các xã Vĩnh Hoàng, Vĩnh Thủy, Kim Phú, phường Đồng Hới với tỷ lệ gây hại phổ biến 2 - 3 con/m2, nơi cao 5 - 7 con/m2. Bọ trĩ gây hại tập trung ở các xã Vĩnh Thủy, Kim Phú, Bắc Trạch với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 5%, nơi cao 7 - 10%. Tuyến trùng rễ gây hại tập trung ở xã Triệu Phong.

- Cây ngô: Chuột gây hại tập trung ở xã Kim Phú, với tỷ lệ gây hại phổ biến 3 - 4%. Sâu keo mùa thu gây hại ở các xã/phường Quảng Trị, Hải Lăng, Hiếu Giang, Cam Lộ, Tà Rụt,… với mật độ gây hại phổ biến 2 - 3 con/m2, nơi cao 5 - 7 con/m2; sâu tuổi 3 - 4.

- Cây sắn: Bệnh khảm lá gây hại tập trung ở các xã Hải Lăng, Nam Hải Lăng, Vĩnh Hoàng, Cửa Tùng, Hướng Hóa,… tỷ lệ bệnh phổ biến 10 - 20%, nơi cao 30 - 50%; cấp 1 - 3.

- Cây lạc: Sâu cuốn lá gây hại tập trung ở xã Ba Lòng, với mật độ gây hại phổ biến 10 - 20 con/m2, nơi cao 40 con/m2; sâu tuổi 2, 3 [1].

Tháng 02 năm 2026, nhiệm vụ trọng tâm của ngành trồng trọt là cần tập trung gieo trồng hết diện tích các loại cây hàng năm vụ Đông Xuân, đồng thời chăm sóc các loại cây đã gieo trồng, kịp thời phòng ngừa sâu bệnh hại cây trồng.

- Chăn nuôi

Tháng 02/2026 trùng với dịp tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu thụ thực phẩm, đặc biệt là các sản phẩm thịt lợn, gia cầm và trứng tăng cao. Hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định; nguồn cung thực phẩm cơ bản đáp ứng nhu cầu thị trường trước, trong và sau Tết. Công tác chỉ đạo sản xuất, phòng, chống dịch bệnh và bình ổn thị trường tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm triển khai.

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 02/2026 ước đạt 14.493,9 tấn, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 236 tấn, tăng 11,6%; thịt bò 1.124 tấn, tăng 14%; thịt lợn 8.723 tấn, tăng 12,4%; thịt gia cầm 4.410,9 tấn, tăng 12,6% (trong đó: Thịt gà 3.445 tấn, tăng 13,9%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng gia cầm 18.273 ngàn quả, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng sản phẩm chăn nuôi tháng 02/2026 ước tính tăng so với cùng kỳ năm trước do thời điểm tết Nguyên đán năm nay rơi vào tháng 02, không trùng với tháng 01 như năm trước. Vì vậy, nhu cầu tiêu thụ và hoạt động xuất chuồng trong tháng 02 cao hơn, dẫn đến sản lượng sản phẩm chăn nuôi tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước.

Hình 2. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng

Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 27.676,1 tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thịt trâu đạt 450,2 tấn, tăng 0,3%; thịt bò đạt 2.186 tấn, tăng 3%; thịt lợn đạt 16.683 tấn, giảm 0,4%; thịt gia cầm đạt 8.356,9 tấn, tăng 3% (trong đó thịt gà đạt 6.481 tấn, tăng 4,2%). Sản lượng trứng gia cầm ước đạt 34.408 ngàn quả, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước.

* Công tác thú y: Trong tháng 02/2026, công tác thú y trên địa bàn tỉnh được triển khai kịp thời, hiệu quả; không phát sinh dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm. UBND các xã, phường, đặc khu đã ban hành kế hoạch kiểm tra các điểm giết mổ động vật nhỏ lẻ trên địa bàn trước, trong và sau tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; đồng thời phối hợp tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các chủ cơ sở giết mổ thực hiện nghiêm các quy định về vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, không giết mổ động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh và tổ chức ký cam kết chấp hành các quy định của pháp luật trong hoạt động giết mổ.

Thời gian tới, ngành chăn nuôi tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, tình hình tái đàn và dịch bệnh trên đàn vật nuôi; tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, kiểm soát vận chuyển và giết mổ; khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, nâng cao hiệu quả và đảm bảo nguồn cung thực phẩm ổn định cho thị trường.

Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm (tính đến ngày 26/02/2026):

- Dịch bệnh gia súc, gia cầm: không.

- Dịch bệnh thủy sản: không [2].

b) Lâm nghiệp

Tháng 02/2026, sản xuất lâm nghiệp tập trung vào các hoạt động hưởng ứng phong trào “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Bính Ngọ 2026, cũng như tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng trong toàn tỉnh.

Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 02/2026 ước đạt 826,3 ha, giảm 17,0% (do tháng 02 là tháng nghỉ tết Nguyên đán nên người dân trồng mới ít); lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.308,3 ha, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Sau thời gian nghỉ Tết, các địa phương, đơn vị và hộ dân trong toàn tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc, bảo vệ rừng, tiến hành đốt, dọn thực bì, đào hố, tuyển chọn cây giống, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng vụ Xuân.

Sản lượng gỗ khai thác tháng 02/2026 ước đạt 110.326 m3, tăng 69,0%; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 331.646 m3, tăng 17,2% so với cùng kỳ năm trước.

Công tác bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, phòng và chống cháy rừng luôn được các cấp, các ngành triển khai thực hiện nghiêm túc. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng và thiệt hại về rừng.

c) Thủy sản

Tình hình khai thác và nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Khai thác thủy sản đạt sản lượng thấp do tháng này bà con nghỉ Tết, thời gian ra khơi khai thác thủy sản ít. Nuôi trồng thủy sản tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm phục vụ nhu cầu Tết cho người dân.

Ước tính sản lượng thủy sản tháng 02/2026 đạt 9.806,0 tấn, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Cá đạt 7.927,0 tấn, giảm 2,5%; tôm đạt 766,4 tấn, tăng 2,6%; thuỷ sản khác đạt 1.112,6 tấn, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản trong 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 19.697,7 tấn, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Cá đạt 15.870,0 tấn, tăng 1,0%; tôm đạt 1.537,9 tấn, tăng 2,1%; thủy sản khác đạt 2.289,8 tấn, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 4. Sản lượng thủy sản

- Khai thác

Thời tiết tháng 02 năm nay thuận lợi, nhưng trùng vào thời điểm tết Nguyên đán nên nhiều ngư dân đang nghỉ Tết, thời gian ra khơi khai thác hải sản ít nên sản lượng khai thác giảm so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 02/2026 ước đạt 7.942,8 tấn, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 6.746,0 tấn, giảm 3,6%; tôm đạt 140,7 tấn, giảm 1,7%; thủy sản khác đạt 1.056,1 tấn, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 15.941,4 tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 13.471,0 tấn, tăng 0,6%; tôm đạt 293,1 tấn, tăng 0,7%; thủy sản khác đạt 2.177,3 tấn, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước.

- Nuôi trồng

Trong tháng 02 nuôi trồng thủy sản khá ổn định, thời tiết thuận lợi, ít dịch bệnh, các hộ nuôi trồng thủy sản tiếp tục thu hoạch sản phẩm trong và sau Tết nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; đồng thời cải tạo, tu sửa, gia cố ao hồ, bờ đê ruộng lúa để chuẩn bị cho vụ nuôi mới trong năm.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch trong tháng 02/2026 ước đạt 1.863,2 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 1.181,0 tấn, tăng 4,4%; tôm đạt 625,7 tấn, tăng 3,6%; thủy sản khác đạt 56,5 tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.756,3 tấn, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng chia theo nhóm sản phẩm: Cá đạt 2.399,0 tấn, tăng 3,3%; tôm đạt 1.244,8 tấn, tăng 2,5%; thủy sản khác đạt 112,5 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước.

2. Công nghiệp

Tháng 02/2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị diễn ra trong bối cảnh có kỳ nghỉ tết Nguyên đán tập trung trong tháng, làm giảm số ngày làm việc thực tế so với tháng trước. Tuy nhiên, với sự chủ động trong kế hoạch sản xuất và điều hành của doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất công nghiệp của tỉnh nhìn chung vẫn duy trì ổn định và tiếp tục ghi nhận mức tăng so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành chủ lực như: Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; khai khoáng khác tăng; sản xuất trang phục,… giữ được nhịp độ tăng trưởng, góp phần tạo nền tảng tích cực cho kết quả 02 tháng đầu năm 2026.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 02 giảm 11,0% so với tháng trước và tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 2,0%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,4%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 02 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 15,4%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,1%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 5. Chỉ số sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp 02 tháng năm 2026 của một số ngành cấp 2 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 38,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 17,0%; khai khoáng khác tăng 16,2%; sản xuất trang phục tăng 15,7%; sản xuất đồ uống tăng 15,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 15,3%; khai thác quặng kim loại tăng 13,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 12,8%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 9,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 9,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,2%. Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 19,8% (Công ty CP Xenlulo Quảng Bình tạm dừng sản xuất thời gian ngắn để bảo dưỡng máy nghiền); sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 9,7% (nguồn nguyên liệu sắn đi vào cuối vụ nên sản lượng tinh bột sắn sản xuất giảm mạnh); hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm 4,7% (ngành hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải giảm do Công ty TNHH Dự án Phát triển Việt Nam tạm dừng hoạt động để bảo dưỡng máy móc và đang chờ xin giấy phép hoạt động trở lại từ Sở Nông nghiệp và Môi trường); sản xuất và phân phối điện giảm 1,7% (một số dự án điện gió đạt sản lượng thấp do thời tiết không thuận lợi, tốc độ gió thay đổi đột ngột không đạt đến mức tối ưu).

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu sản xuất trong 02 tháng năm 2026 so với năm trước: Quặng titan đạt 3.058 tấn, giảm 43,7%; đá xây dựng đạt 439.120 m3, tăng 27,9%; cao lanh đạt 11.358 tấn, giảm 31,2%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 3.828 tấn, giảm 23,4%; tinh bột sắn đạt 19.927 tấn, giảm 35%; bia đóng lon đạt 4.582 nghìn lít, tăng 9,1%; nước khoáng đạt 145 nghìn lít, tăng 19,9%; áo quần các loại (trừ áo sơ mi người lớn) đạt 5.721 nghìn cái, tăng 13,9%; áo sơ mi đạt 2.205 nghìn cái, tăng 3,0%; dăm gỗ đạt 239.601 tấn, tăng 90,7%; ván ép từ gỗ đạt 39.905 m3, giảm 4,6%; cao su tổng hợp và cao su tự nhiên đạt 169 tấn, tăng 39,6%; kính cường lực đạt 527 tấn, tăng 24,3%; clinker thành phẩm đạt 268.561 tấn, giảm 30%; xi măng đạt 217.835 tấn, tăng 7,4%; điện gió đạt 455 triệu kWh, giảm 27,8%; điện thương phẩm đạt 315 triệu kWh, tăng 8,9%; nước máy thương phẩm đạt 4.988 nghìn m3, tăng 5,3%.

3. Vốn đầu tư

Trong tháng 02 năm 2026, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tiếp tục được tập trung triển khai đối với các công trình chuyển tiếp từ năm trước; đồng thời các cấp, các ngành tăng cường phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện. Các chủ đầu tư, ban quản lý dự án được yêu cầu nâng cao trách nhiệm, đẩy nhanh hoàn thiện hồ sơ đấu thầu, thủ tục đầu tư, đảm bảo lựa chọn nhà thầu đủ năng lực; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát tiến độ, khối lượng thi công theo quy định.

Tuy nhiên, tiến độ thực hiện vốn đầu tư trong tháng còn chậm và giảm so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là: kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được giao thấp (chỉ bằng dưới 45% so với năm 2025); kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 từ nguồn ngân sách trung ương chưa được phân bổ; tháng 02 trùng thời gian nghỉ tết Nguyên đán nên tiến độ thi công và giải ngân chậm; các sở, ban, ngành và địa phương đang tập trung phân bổ kế hoạch vốn và nhập dự toán chi cho các dự án.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 02 năm 2026 ước tính đạt 229,6 tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và giảm 32,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 200,1 tỷ đồng, giảm 35,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 29,5 tỷ đồng, tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 453,4 tỷ đồng, giảm 31,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 396,1 tỷ đồng, giảm 34,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 57,3 tỷ đồng, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước.

Một số dự án thực hiện trên địa bàn tỉnh: Dự án thành phần 1 - Đường ven biển thuộc dự án Đường ven biển và cầu Nhật Lệ 3; Dự án thành phần 2: Cầu Nhật Lệ 3 và đường hai đầu cầu; Dự án Đường ven biển kết nối hành lang kinh tế Đông Tây, tỉnh Quảng Trị - giai đoạn 1; Dự án Đường tránh phía Đông thành phố Đông Hà (đoạn từ nút giao đường Nguyễn Hoàng đến Nam cầu sông Hiếu); Dự án Khu tái định cư xã Hải An (giai đoạn 2); Dự án Trung tâm Bảo trợ xã hội và Phục hồi chức năng dành cho Người khuyết tật tỉnh Quảng Trị; Dự án Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Quảng Bình (cơ sở 2); Dự án Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị - Tiểu dự án tỉnh Quảng Trị; Dự án Phát triển đô thị ven biển miền Trung hướng đến tăng trưởng xanh và ứng phó với biến đổi khí hậu thành phố Đông Hà; Dự án San nền và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu tại Khu vực Trung tâm Cửa khẩu quốc tế La Lay (Giai đoạn 2); Dự án Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Dân Hóa; Dự án Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Đakrông; Dự án Trường nội trú Tiểu học và THCS Hướng Phùng; Dự án Trường nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Trạch; Dự án Hạ tầng cơ bản cho phát triển toàn diện tỉnh Quảng Trị (Big2); Dự án Đường hai đầu cầu dây văng sông Hiếu (Giai đoạn 1); Dự án Đường nối từ cầu Thạch Hãn đến Trung tâm phường An Đông, thị xã Quảng Trị; Dự án Tuyến đường kết nối cảng hàng không Quảng Trị với Quốc lộ 1.

4. Thương mại, dịch vụ

a) Tổng mức bán lẻ hàng hoá

Tháng 02/2026 trùng với dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ nên nhu cầu chi tiêu, mua sắm của Nhân dân tăng mạnh so với tháng trước. Các siêu thị, trung tâm thương mại và cơ sở bán lẻ trên địa bàn tỉnh đã chủ động chuẩn bị lượng hàng hóa dồi dào với tỷ lệ ưu tiên hàng Việt Nam, nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết. Nhiều hệ thống phân phối tổ chức tăng lượng dự trữ hàng thiết yếu từ 20 - 40% so với các tháng kinh doanh bình thường; đồng thời triển khai các chương trình khuyến mại, giảm giá, kích cầu tiêu dùng trước và trong Tết.

Bên cạnh đó, các ngành chức năng tăng cường công tác quản lý thị trường, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa, đầu cơ găm hàng hoặc tăng giá đột biến. Công tác kiểm tra an toàn thực phẩm, kiểm soát chất lượng hàng hóa được thực hiện chặt chẽ, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nhìn chung, với sự chuẩn bị chu đáo và các biện pháp bình ổn thị trường đã triển khai, tỉnh Quảng Trị đáp ứng đầy đủ nhu cầu mua sắm của người dân trong dịp Tết.

Hình 6. Tổng mức bán lẻ hàng hóa

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 02/2026 ước tăng 10,9% so với tháng trước và tăng 18,9% so với cùng kỳ. Trong đó: Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 12,1% so với tháng trước và tăng 20,6% so với cùng kỳ; hàng may mặc ước tăng 12,4% so với tháng trước và tăng 20,0% so với cùng kỳ; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước tăng 11,2% so với tháng trước và tăng 20,3% so với cùng kỳ; nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục ước tăng 14,3% so với tháng trước và tăng 17,6% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 9,8% so với tháng trước và tăng 17,8% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước tăng 8,6% so với tháng trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước tăng 8,8% so với tháng trước và tăng 15,5% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước tăng 9,8% so với tháng trước và tăng 16,8% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) ước tăng 9,3% so với tháng trước và tăng 18,6% so với cùng kỳ; nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm ước tăng 6,6% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ; nhóm hàng hoá khác ước tăng 12,6% so với tháng trước và tăng 20,9% so với cùng kỳ; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước tăng 9,6% so với tháng trước và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 9,7% so với cùng kỳ, trong đó chiếm tỷ trọng lớn và tăng cao là nhóm lương thực, thực phẩm tăng 9,8%; nhóm hàng may mặc tăng 10,1%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 10,7%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước.

b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành

Nhu cầu tham quan, du lịch đầu Xuân Bính Ngọ 2026 tăng cao, góp phần làm hoạt động du lịch trên địa bàn diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách. Tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, các tour khám phá, mạo hiểm đón những đoàn khách đầu tiên tham quan động Phong Nha, động Thiên Đường. Các điểm du lịch tâm linh, lịch sử như Khu Mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thành Cổ Quảng Trị, Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải,… cũng thu hút lượng lớn người dân và du khách đến tham quan, dâng hương. Chuỗi hoạt động “Chào Xuân Bính Ngọ 2026” được tổ chức đồng loạt với các chương trình bắn pháo hoa, hội bài chòi, hội chợ hoa Xuân, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trên toàn tỉnh. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành trong tháng 02/2026 tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước.

- Dịch vụ lưu trú:

Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 02/2026 ước tăng 2,0% so tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 12,5% so với cùng kỳ.

Hình 7. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống

Số lượt khách lưu trú tháng 02/2026 ước tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 12,0% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 12,5% so với cùng kỳ.

Số lượt khách quốc tế lưu trú tháng 02/2026 ước tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 51,4% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 52,9% so với cùng kỳ.

Ngày khách tháng 02/2026 ước tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 17,7% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 17,9% so với cùng kỳ.

- Dịch vụ ăn uống:

Tháng 02/2026, doanh thu dịch vụ ăn uống ước tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 15,7% so với cùng kỳ, do nhu cầu ăn uống trong dịp du Xuân tăng; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 14,0% so với cùng kỳ.

- Du lịch lữ hành:

Doanh thu hoạt động lữ hành tháng 02/2026 ước tăng 41,5% so với tháng trước và tăng 6,5% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 10,3% so với cùng kỳ.

Số lượt khách du lịch lữ hành tháng 02/2026 ước tăng 30,4% so tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ; 2 tháng đầu năm 2026 ước tăng 6,9% so với cùng kỳ.

Hình 8. Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành

c) Các ngành kinh doanh dịch vụ

Trong tháng 2/2026, cùng với hoạt động du Xuân, đón Tết Bính Ngọ của Nhân dân, nhiều hoạt động vui chơi, giải trí được tổ chức sôi động góp phần thúc đẩy doanh thu khu vực dịch vụ tăng so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính doanh thu hoạt động các ngành kinh doanh dịch vụ tháng 02/2026 tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 9,1% so với cùng kỳ. Xét theo từng nhóm ngành, nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 4,1% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước giảm 2,1% so với tháng trước và tăng 6,1% so với cùng kỳ; nhóm nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước tăng 9,5% so với tháng trước và tăng 38,1% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước giảm 5,6% so với tháng trước và tăng 4,9% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ khác ước tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 23,0% so với cùng kỳ.

Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm dịch vụ nghệ thuật vui chơi giải trí tăng cao 38,1%; nhóm dịch vụ khác tăng 23,0% là các lĩnh vực có mức tăng trưởng nổi bật, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của khu vực dịch vụ.

d) Hoạt động vận tải

Hoạt động vận tải trên địa bàn tỉnh trong tháng 02/2026 diễn ra sôi động và nhộn nhịp, đây là tháng trùng vào thời điểm nghỉ tết Nguyên đán 9 ngày liên tục, nhiều doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể vận tải hành khách đã đăng ký thêm chuyến nhằm phục vụ kịp thời nhu cầu về quê đón Tết của người dân sinh sống và làm việc xa quê. Hoạt động vận tải hàng hóa cũng tăng đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hoá phục vụ tết Nguyên đán. Nhờ đó, doanh thu cũng như khối lượng vận chuyển, luân chuyển hành khách và hàng hóa trong tháng 02/2026 tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ năm trước.

Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 02/2026 ước tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vận tải hành khách ước tăng 11,3%; vận tải hàng hóa ước tăng 11,7%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 9. Doanh thu hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải

Vận tải hành khách

Ước tính tháng 02/2026, số lượt hành khách vận chuyển tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,0% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,0% so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, số lượt hành khách vận chuyển ước tăng 11,2%; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hóa

Ước tính khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 02/2026 tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 13,2% so với cùng kỳ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tăng 11,7%; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước.

đ) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Tháng 02 là tháng trùng với dịp tết Nguyên đán nên hầu hết các mặt hàng đều tăng giá, đặc biệt là các mặt hàng như lương thực, thực phẩm; giá điện; giá xăng dầu và giá một số mặt hàng dịch vụ khác,… Các yếu tố trên đã tác động đến Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Quảng Trị tháng 02 năm 2026 tăng 1,31% so với tháng trước; so với tháng 12 năm trước tăng 1,47%; so với tháng cùng kỳ năm trước tăng 2,37%; tính chung 2 tháng đầu năm 2026 CPI tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 10. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 02/2026 so với tháng trước

So với tháng trước, CPI tháng 02/2026 tăng 1,31%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá, 01 nhóm giảm giá, 02 nhóm hàng ổn định. Cụ thể: 8 nhóm hàng hóa tăng đó là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,10% so với tháng trước; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,84%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,78%; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,71%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,92%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,17%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; nhóm giao thông tăng 0,93%. Nhóm hàng hóa giảm là nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,07%. Có 2 nhóm hàng ổn định đó là: nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm giáo dục.

Chỉ số giá vàng 99,99%

Giá vàng bình quân tháng 02/2026 tăng 11,53% so với tháng trước, dao động quanh mức 16,91 triệu đồng/chỉ vàng 99,99%, tăng 115,01% so với kỳ gốc 2024, bình quân 2 tháng tăng 77,91% so với cùng kỳ.

Chỉ số giá đô la Mỹ (USD)

Giá đô la Mỹ (USD) bình quân tháng 02/2026 là 26.162 VND/USD, giảm 0,84% so với tháng trước, tăng 5,52% so với kỳ gốc 2024, bình quân 2 tháng tăng 4,32% so với cùng kỳ.

5. Thu ngân sách Nhà nước, ngân hàng

a) Thu ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách trên địa bàn 2 tháng đầu năm 2026 ước tính thực hiện 2.390,2 tỷ đồng, đạt 19,0% dự toán Trung ương giao, đạt 17,6% dự toán địa phương giao và tăng 16,1% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nội địa thực hiện 2.074,2 tỷ đồng, đạt 21,3% dự toán Trung ương giao, đạt 19,3% dự toán địa phương giao và tăng 17,1% so với cùng kỳ; thu thuế xuất nhập khẩu thực hiện 316,0 tỷ đồng, đạt 11,1% dự toán Trung ương giao và tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng số thu cân đối ngân sách 02 tháng đầu năm 2026, có 8/17 khoản thu đạt tiến độ (16,7%) so với dự toán năm của tỉnh là thu từ doanh nghiệp Nhà nước Trung ương; doanh nghiệp Nhà nước địa phương; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; thu ngoài quốc doanh; thuế thu nhập cá nhân; thu lệ phí trước bạ; thu phí, lệ phí; thu cấp quyền khai thác khoáng sản. Còn lại 9 khoản chưa đạt tiến độ của dự toán năm.

b) Ngân hàng

- Hoạt động huy động vốn

Đến 28/02/2026, nguồn vốn huy động tại địa bàn ước tính đạt 141.449 tỷ đồng, tăng 1,6% so với đầu năm, tăng 1% so với tháng trước.

- Hoạt động tín dụng

Đến 28/02/2026, tổng dư nợ ước tính đạt 170.130 tỷ đồng, tăng 1% so với đầu năm.

II. XÃ HỘI

1. Y tế

Trong tháng 02/2026, ngành Y tế tỉnh Quảng Trị tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Nhân dân, đặc biệt trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ. Công tác phòng, chống dịch bệnh được tăng cường; các bệnh truyền nhiễm như sốt xuất huyết, cúm A, sởi được giám sát chặt chẽ, toàn tỉnh ghi nhận 04 ca sốt xuất huyết trong 9 ngày Tết, không có ca tử vong. Các cơ sở khám, chữa bệnh duy trì trực 24/24 giờ, bảo đảm đầy đủ thuốc, máu, vật tư y tế và phương án cấp cứu tai nạn giao thông, ngộ độc thực phẩm. Tổng số lượt khám bệnh trong 9 ngày Tết đạt 4.931 lượt, 1.804 bệnh nhân nhập viện điều trị; không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể. Công tác an toàn thực phẩm được đẩy mạnh kiểm tra, giám sát trước, trong và sau Tết. Bên cạnh đó, ngành Y tế thực hiện tốt các hoạt động an sinh xã hội, thăm hỏi, tặng quà bệnh nhân và đối tượng bảo trợ, góp phần bảo đảm Nhân dân đón Tết vui tươi, an toàn và lành mạnh.

2. Giáo dục, đào tạo

Trong tháng 02 năm 2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị tiếp tục triển khai nhiệm vụ năm học 2025 - 2026 đảm bảo đúng tiến độ, bám sát chỉ đạo của các cấp. Các cơ sở giáo dục tổ chức tốt các hoạt động “Mừng Đảng - Mừng Xuân”, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông trước, trong và sau tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; duy trì ổn định nề nếp dạy và học ngay sau kỳ nghỉ Tết.

Công tác chuyên môn đạt kết quả tích cực. Ngành tổ chức sơ kết học kỳ I, triển khai nhiệm vụ học kỳ II; tăng cường bồi dưỡng học sinh giỏi và hướng dẫn các dự án tham gia Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia. Kết quả nổi bật, tỉnh có 114 học sinh đoạt giải quốc gia môn văn hóa lớp 12, đạt 65,5%, vượt chỉ tiêu đề ra.

Công tác an sinh được quan tâm kịp thời với hơn 4.330 suất quà trao cho giáo viên, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tổng trị giá trên 2,29 tỷ đồng. Bên cạnh kết quả đạt được, tiến độ cấp phát thư điện tử công vụ còn chậm. Nhìn chung, tháng 02/2026, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng thực hiện tốt nhiệm vụ các tháng tiếp theo.

3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao

a) Hoạt động văn hóa

Trong tháng 02 năm 2026, hoạt động văn hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Trị diễn ra sôi nổi, thiết thực chào Mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Trị đã chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền cổ động trực quan; tổ chức treo cờ, pa nô, băng rôn, khẩu hiệu tại trung tâm hành chính, khu dân cư và các tuyến đường chính. Nhiều chương trình văn nghệ, biểu diễn nghệ thuật quần chúng, giao lưu văn hóa được tổ chức phục vụ nhân dân trong dịp Tết, tạo không khí vui tươi, phấn khởi đầu năm mới.

Công tác quản lý và tổ chức lễ hội đầu xuân được thực hiện đảm bảo trang trọng, tiết kiệm, an toàn, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và nếp sống văn minh. Hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa được quan tâm; các điểm di tích mở cửa phục vụ khách tham quan, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được duy trì; công tác kiểm tra hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, quảng cáo được tăng cường.

b) Hoạt động thể dục thể thao

Trong tháng, phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp với nhiều giải thi đấu mừng Xuân được tổ chức tại cơ sở như bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, điền kinh và các trò chơi dân gian, thu hút đông đảo cán bộ, nhân dân tham gia. Các hoạt động góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng và tạo khí thế thi đua sôi nổi đầu năm.

Đối với thể thao thành tích cao, ngành tiếp tục duy trì công tác đào tạo, huấn luyện vận động viên; xây dựng kế hoạch tham gia các giải thi đấu khu vực và toàn quốc năm 2026. Công tác quản lý nhà nước về thể dục thể thao được thực hiện theo đúng quy định, đảm bảo các hoạt động diễn ra an toàn, hiệu quả.

4. Tình hình trật tự an toàn xã hội

- An toàn giao thông

Tháng 02 năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 31 vụ tai nạn giao thông, làm chết 24 người, bị thương 29 người. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn tăng 29,17% (+07 vụ), số người chết tăng 60% (+09 người), số người bị thương tăng 93,33% (+14 người). Tất cả các vụ tai nạn giao thông đều xảy ra trên đường bộ.

- Tình hình cháy nổ

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ cháy (cháy phương tiện vận tải), không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính một tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy giảm 02 vụ.

5. Tình hình nổi bật khác về xã hội

Tháng 02 năm 2026 là dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Trị cơ bản ổn định. Hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được duy trì trở lại sau kỳ nghỉ Tết. Thị trường hàng hóa tương đối ổn định, nguồn cung đảm bảo, không xảy ra biến động lớn về giá cả các mặt hàng thiết yếu. Trật tự an toàn xã hội được giữ vững; các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn giao thông trước, trong và sau Tết.

Công tác an sinh xã hội tiếp tục được các cấp, ngành quan tâm triển khai đồng bộ. Nhân dịp tết Nguyên đán, tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người lao động có hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo mọi người, mọi nhà đều có điều kiện đón Tết. Các chế độ trợ cấp thường xuyên, trợ cấp xã hội, hỗ trợ thất nghiệp được chi trả kịp thời, đúng đối tượng.

Công tác chăm lo Tết cho người nghèo được Mặt trận các cấp triển khai hiệu quả, với nhiều hoạt động thiết thực. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức chương trình “Nối vòng tay nhân ái” Xuân Bính Ngọ 2026, đã vận động và tổ chức trao 69.577 suất quà Tết, hỗ trợ sửa chữa 62 căn nhà, trao 506 suất học bổng cho học sinh nghèo, tổ chức 3 phiên “Chợ 0 đồng” cho các hộ nghèo, gia đình chính sách, nạn nhân chất độc da cam, người khuyết tật, trẻ mồ côi, các gia đình bị ảnh hưởng bởi thiên tai và có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, với tổng trị giá hơn 77,1 tỷ đồng./.

[1] Nguồn: Báo cáo số 192/BC-TTBVTV ngày 25/02/2026 của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.

[2] Nguồn: Báo cáo số 145/BC-CNTY ngày 26/02/2026 của Chi cục Chăn nuôi và Thú y.