BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ III VÀ 9 THÁNG NĂM 2025
Quý III là khoảng thời gian hết sức quan trọng để tăng tốc và phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) năm 2025. Tỉnh Quảng Trị thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn với những thuận lợi: Nền kinh tế cả nước tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát trong tầm kiểm soát; môi trường đầu tư kinh doanh cải thiện góp phần tích cực cho phục hồi và phát triển KT - XH; các ngành dịch vụ, đặc biệt là ngành du lịch phát triển mạnh mẽ; trong tỉnh, Quảng Trị sau hợp nhất đã tạo ra không gian rộng lớn, mở ra nhiều tiềm năng mới để phát triển kinh tế - xã hội,... Bên cạnh những thuận lợi, tình hình KT - XH vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; xung đột quân sự gia tăng tại một số quốc gia, khu vực; “chiến tranh thương mại” giữa các nước đang căng thẳng; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu,… đã làm gia tăng rủi ro đối với chuỗi cung ứng hàng hóa, thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường vàng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực toàn cầu; trong nước, việc phục hồi thị trường bất động sản vẫn còn nhiều rủi ro và thách thức; giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào tăng cao làm tăng chi phí sản xuất, vận tải, tạo áp lực lên kiểm soát lạm phát, biến đổi khí hậu khiến thời tiết diễn biến ngày càng khó lường, tần suất và cường độ thiên tai tăng rõ rệt, đe dọa trực tiếp đến đời sống, sinh kế và sự an toàn của người dân; trong tỉnh: dịch bệnh trên đàn gia súc diễn biến phức tạp; đời sống của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn; trong khi đó, các yếu tố nền tảng cho sự phát triển của tỉnh như: hạ tầng giao thông, khu công nghiệp còn nhiều hạn chế, bất cập; hạ tầng du lịch, nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số,... chưa đáp ứng được yêu cầu.
Trong không khí thi đua sôi nổi chào mừng 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025), để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, UBND tỉnh đã yêu cầu các sở, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện khẩn trương, nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã được UBND tỉnh giao tại Kế hoạch hành động số 750/KH-UBND ngày 03/9/2025 thực hiện các nghị quyết của Chính phủ, Hội đồng nhân tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước bảo đảm mục tiêu tăng trưởng tỉnh Quảng Trị năm 2025 đạt 8% trở lên nhằm tạo đà, tạo lực, tạo thế cho những năm sau tăng trưởng hai con số; nhờ đó, tình hình KT - XH quý III và 9 tháng năm 2025 của tỉnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận: Kinh tế ổn định và tăng trưởng khá, sản xuất lâm nghiệp và thủy sản phát triển ổn định; sản xuất công nghiệp duy trì tăng trưởng; các ngành dịch vụ, du lịch đạt kết quả tích cực; môi trường đầu tư từng bước được cải thiện; các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 được tổ chức sôi nổi và ý nghĩa; công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm và cải thiện; tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo.
Kết quả đạt được cụ thể trên các lĩnh vực KT - XH trong quý III và 9 tháng năm 2025 như sau:
I. KINH TẾ
1. Kết quả ước tính một số chỉ tiêu chủ yếu 9 tháng năm 2025
- Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh 2010 tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2024 tăng 6,47%).
+ Giá trị tăng thêm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,50% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2024 tăng 3,30%).
+ Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp, xây dựng tăng 10,29% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2024 tăng 7,78%); trong đó, giá trị tăng thêm công nghiệp tăng 7,65% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2024 tăng 5,88%).
+ Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tăng 8,34% so với cùng kỳ năm trước (9 tháng năm 2024 tăng 7,09%).
- Sản lượng lương thực vụ Đông Xuân 2024 - 2025 đạt 371.410,1 tấn, giảm 3,7% so với vụ Đông Xuân năm trước.
- Sản lượng lương thực vụ Hè Thu 2025 đạt 227.063,5 tấn, giảm 8,0% so với vụ Hè Thu năm trước.
- Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 115.827,9 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước.
- Sản lượng thủy sản đạt 114.250,6 tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 48.030,0 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước.
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước.

2. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Chín tháng năm 2025, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do tình hình sâu bệnh và ảnh hưởng cực đoan của thời tiết. Hoạt động trồng trọt thực hiện đúng tiến độ, đảm bảo lịch thời vụ đề ra tuy nhiên cuối vụ Đông Xuân và đầu vụ Hè Thu có mưa lớn, một số nơi bị thiệt hại đã ảnh hưởng đến năng suất vụ Đông Xuân và tiến độ gieo trồng vụ Hè Thu. Dịch bệnh chăn nuôi bùng phát và diễn biến phức tạp. Công tác trồng rừng, tuyên truyền, bảo vệ, phòng cháy và chữa cháy rừng được duy trì. Hoạt động sản xuất thủy sản tăng trưởng ổn định.
a) Nông nghiệp
* Trồng trọt
Ước tính đến ngày 30/9/2025, diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh thực hiện 164.692,2 ha, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vụ Đông Xuân thực hiện 85.472,3 ha, giảm 0,7%; vụ Hè Thu thực hiện 77.663,1 ha, giảm 0,8%; vụ Mùa thực hiện 1.556,8 ha, giảm 7,0% so với cùng kỳ năm trước.

Diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu như sau: Cây lúa 103.519,0 ha, giảm 0,4%; cây ngô 8.548,8 ha, giảm 3,2%; cây khoai lang 3.826,8 ha, giảm 5,4%; cây sắn 20.113,9 ha, tăng 0,6%; cây lạc 5.847,6 ha, giảm 3,8%; rau, đậu các loại 14.413,3 ha, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước.
- Sản xuất vụ Đông Xuân: Nhờ sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự cố gắng của bà con nông dân trong việc sử dụng giống chất lượng cao, kịp thời phòng trừ sâu bệnh nên năng suất một số loại cây tăng cao so với cùng kỳ. Tuy nhiên do ảnh hưởng bất lợi của thời tiết cực đoan nên năng suất một số loại cây khác bị giảm trong đó giảm mạnh nhất là cây lúa. Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Đông Xuân thực hiện 85.472,3 ha, giảm 0,7% so với vụ Đông Xuân năm trước.
Cây lúa: Diện tích lúa gieo trồng vụ Đông Xuân năm 2024 - 2025 thực hiện 55.500,8 ha, tăng 0,2%; năng suất lúa bình quân chung toàn tỉnh ước đạt 60,36 tạ/ha, giảm 4,9%. Ước tính sản lượng lúa toàn tỉnh đạt 333.961,3 tấn, giảm 4,8% so với vụ Đông Xuân năm trước.
Diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô thực hiện 7.104,5 ha, giảm 2,6%; khoai lang 3.187,7 ha, giảm 3,9%; lạc 5.303,4 ha, giảm 3,3%; rau các loại 8.088,1 ha, giảm 0,5%; đậu các loại 966,4 ha, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước.
Năng suất gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô đạt 52,44 tạ/ha, tăng 10,0%; khoai lang 83,09 tạ/ha, tăng 2,9%; lạc đạt 23,18 tạ/ha, tăng 5,8%; rau các loại 111,75 tạ/ha, tăng 1,4%; đậu, đỗ các loại 11,36 tạ/ha tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Năng suất ngô, lạc tăng mạnh chủ yếu do năm 2024 bị sâu bệnh nặng nên năng suất giảm sâu năm nay ít bị sâu bệnh, thu hoạch trước đợt mưa lớn giữa tháng 5 nên không bị ảnh hưởng.
Sản lượng gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô đạt 37.257,3 tấn, tăng 7,4%; khoai lang đạt 26.486,2 tấn, giảm 1,2%; lạc đạt 12.292,7 tấn, tăng 2,3%; rau các loại đạt 89.825,2 tấn, tăng 0,3%; đậu các loại đạt 1.097,8 tấn, giảm 0,8% so với vụ Đông Xuân năm trước.
- Sản xuất vụ Hè Thu: Vụ Hè Thu được chỉ đạo triển khai đảm bảo đúng lịch thời vụ, các địa phương chú trọng xây dựng kế hoạch điều tiết, dự trữ nước đảm bảo phục vụ cho công tác tưới tiêu, nên cây lúa và các loại cây trồng chủ yếu sinh trưởng phát triển tốt. Tuy nhiên, đầu Vụ gặp mưa lớn, thời gian ngâm gốc lâu khiến lúa bị hỏng, một số nơi diện tích lúa tái sinh không để lại được và không thực hiện gieo mới nên diện tích lúa vụ Hè Thu năm nay giảm mạnh so với vụ Hè Thu năm trước. Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ Hè Thu năm nay thực hiện 77.663,1 ha, giảm 0,8% so với vụ Hè Thu năm trước. Ước tính diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu vụ Hè Thu như sau:
+ Cây lúa: Diện tích lúa gieo trồng vụ Hè Thu năm 2025 thực hiện 46.461,5 ha, giảm 0,9%. Năng suất lúa bình quân chung toàn tỉnh ước đạt 48,03 tạ/ha, giảm 6,8%. Ước tính sản lượng lúa toàn tỉnh đạt 223.157,9 tấn, giảm 7,6% so với vụ Hè Thu năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng của mưa lớn đầu vụ lúa tái sinh tỷ lệ ra nhánh thấp năng suất giảm mạnh, một số địa phương lúa gieo cấy bị sâu bệnh gây hại.
+ Các loại cây trồng khác:
Diện tích gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô thực hiện 1.444,3 ha, giảm 6,0%; khoai lang 639,1 ha, giảm 12,2%; sắn 20.113,9 ha, tăng 0,1%; lạc 544,2 ha, giảm 8,9%; rau, đậu các loại 5.373,3 ha, giảm 0,7% so với vụ Hè Thu năm trước.
Năng suất gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô đạt 34,58 tạ/ha, tăng 1,3%; khoai lang đạt 65,21 tạ/ha, tăng 0,1%; sắn đạt 163,64 tạ/ha, tăng 0,1%; lạc đạt 19,27 tạ/ha, tăng 1,3%; rau các loại đạt 100,01 tạ/ha, giảm 0,9%; đậu các loại đạt 10,41 tạ/ha, tăng 3,2% so với vụ Hè Thu năm trước.
Sản lượng gieo trồng một số cây trồng chủ yếu: Cây ngô đạt 4.994 tấn, giảm 4,7%; khoai lang đạt 4.167,5 tấn, giảm 12,1%; sắn đạt 329.144,1 tấn, tăng 0,2%; lạc đạt 1.048,5 tấn, giảm 7,8%; rau các loại đạt 36.402,6 tấn, giảm 0,9%; đậu các loại đạt 1.804,4 tấn, tăng 0,9% so với vụ Hè Thu năm trước.
- Sản xuất vụ Mùa
Ước tính diện tích gieo trồng lúa vụ Mùa năm 2025 toàn tỉnh thực hiện 1.556,8 ha, giảm 7,0% so với vụ Mùa năm trước. Diện tích lúa rẫy giảm so với năm trước do năng suất thấp, thiếu đất, chuyển đổi cây trồng. Việc trồng lúa rẫy ngày càng thu hẹp, nhiều nơi chỉ gieo cấy mang tính phong tục để lưu giữ nguồn giống truyền thống. Một số hộ dân có đất bạc màu đã chuyển sang trồng các loại cây khác như chuối, cao su hoặc tham gia trồng rừng tập trung. Do hiệu quả kinh tế thấp và điều kiện canh tác khó khăn, ngày càng nhiều diện tích lúa rẫy bị bỏ hoang, khiến diện tích gieo trồng loại cây này giảm liên tục qua các năm và không còn ổn định như trước.
- Sản xuất cây lâu năm
Tình hình sản xuất cây lâu năm 9 tháng đầu năm 2025 tương đối ổn định, một số cây trồng vẫn duy trì phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cao, tuy nhiên một số cây trồng giảm do người dân phá bỏ những diện tích cây trồng già cỗi, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế thấp; một số diện tích giảm do Nhà nước thu hồi để phát triển hạ tầng giao thông. Ước tính đến cuối tháng 9, diện tích cây lâu năm thực hiện 47.856,7 ha, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây cao su: Diện tích 30.350,5 ha, giảm 0,3%; sản lượng 24.073,5 tấn, tăng 3,6%; cây hồ tiêu: Diện tích 3.152,6 ha, tăng 0,9%; sản lượng 3.222,0 tấn, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước.
* Chăn nuôi
Sản xuất chăn nuôi 9 tháng năm 2025 xảy ra nhiều biến động. Trong 6 tháng đầu năm chăn nuôi tăng trưởng khá, số lượng đầu con đa số đều tăng so với cùng kỳ, sản lượng các loại gia súc, gia cầm cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và thị trường. Tuy nhiên từ cuối quý II và đặc biệt là quý III, dịch tả lợn châu Phi xuất hiện và diễn biến phức tạp lây lan nhanh số lượng lợn bị chết nhiều làm cho số lượng đàn và sản lượng lợn quý III giảm mạnh kéo theo sản lượng lợn xuất chuồng 9 tháng cũng giảm theo.
Số lượng đàn ước tính đến ngày 30/9/2025: Đàn trâu 49.540 con, giảm 3,6%; đàn bò 152.755 con, tăng 1,1%; đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) 441.595 con, giảm 15,1%; đàn gia cầm 9.856 ngàn con, tăng 2,8%; riêng đàn gà 8.022 ngàn con, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước.
Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý III năm 2025 đạt 37.023,1 tấn, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 690,0 tấn, tăng 1,8%; thịt bò 3.600,0 tấn, tăng 13,6%; thịt lợn 18.834,8 tấn, giảm 13,3%; thịt gia cầm 13.571,3 tấn, tăng 6,7% (trong đó: Thịt gà 10.095,1 tấn, tăng 7,6%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng quý III ước đạt 53.698,1 nghìn quả, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9 tháng năm 2025 đạt 115.827,9 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thịt trâu 1.973,0 tấn, giảm 1,8%; thịt bò 9.732,7 tấn, tăng 8,0%; thịt lợn 66.761,6 tấn, giảm 0,3%; thịt gia cầm 37.033,6 tấn, tăng 4,6% (trong đó: Thịt gà 27.962,3 tấn, tăng 5,3%) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng trứng 9 tháng năm 2025 đạt 149.992,8 nghìn quả, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Do Công ty TNHH Chăn nuôi Hòa Phát Quảng Bình xuất bán nhiều nên sản lượng bò tăng cao, mặt khác dịch bệnh ở lợn bùng phát để đáp ứng nhu cầu thực phẩm người dân đã mở rộng quy mô và gia tăng xuất bán đàn gia cầm.
Để phát triển chăn nuôi bền vững và an toàn dịch bệnh, các cấp các ngành cần có nhiều giải pháp hơn nữa nhằm tăng cường công tác quản lý; xây dựng kế hoạch tái đàn, chăn nuôi theo tín hiệu thị trường, tránh tình trạng cung vượt cầu khiến giá giảm, ảnh hưởng đến lợi ích người nông dân; tăng cường công tác kiểm dịch và tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi, tập trung dập dịch triệt để ở lợn và bò.
Tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm:
- Bệnh Dịch tả lợn châu Phi: Lũy kế đến ngày 23/9/2025, dịch bệnh đã xảy ra tại 9.572 hộ/639 thôn/64 xã, làm 78.561 con lợn buộc tiêu hủy với tổng trọng lượng 4.782.350 kg. Hiện có 49/64 xã, phường có dịch chưa qua 21 ngày và 15/64 xã đã qua 21 ngày.Bệnh Viêm da nổi cục trên trâu bò: Lũy kế đến ngày 23/9/2025, có 05 con bò/04 hộ/2 thôn mắc bệnh, trong đó có 03 con bò chết với trọng lượng 430 kg.
b) Lâm nghiệp
Sản xuất ngành lâm nghiệp 9 tháng năm 2025 nhìn chung ổn định. Hoạt động trồng rừng vẫn được triển khai, công tác chăm sóc, bảo vệ, phục hồi rừng được triển khai đúng kế hoạch.
Trong quý III, thời tiết nắng nóng kéo dài không thuận lợi cho việc trồng rừng nên diện tích rừng trồng mới tăng không đáng kể so với cùng kỳ năm trước, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 6.714,4 ha, tăng 1,9%; lũy kế 9 tháng ước đạt 15.297,7 ha, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng quý III đạt 597.739,0 m3, tăng 8,3%; luỹ kế 9 tháng đạt 1.704.027,0 m3, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác gỗ tăng do diện tích rừng trồng của các hộ dân, doanh nghiệp đã đến kỳ khai thác, đồng thời nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu cho các nhà máy trong và ngoài tỉnh, cũng như phục vụ cho xây dựng và sản xuất đồ mộc tiếp tục tăng.
Ước tính sản lượng củi khai thác quý III đạt 190.767,0 ste, giảm 2,1%; luỹ kế 9 tháng đạt 471.835,0 ste, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi giảm do người dân chuyển sang sử dụng bếp gas và bếp điện. Bên cạnh đó, trước đây củi còn được tiêu thụ tại các vùng đồng bằng, nhưng hiện nay nhu cầu sử dụng tại các khu vực này giảm, dẫn đến việc khai thác và sử dụng củi làm chất đốt cũng bị hạn chế.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy 9,5 ha; 4 vụ vi phạm rừng và diện tích rừng bị phá 0,8 ha.
Công tác bảo vệ rừng được các cấp, các ngành quan tâm, triển khai kịp thời công tác tuyên truyền về ý thức bảo vệ rừng cho người dân vùng có rừng; tổ chức tập huấn công tác phòng chống, cháy rừng cho các chủ rừng; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát phá rừng trái phép.
c) Thủy sản
Sản lượng thủy sản quý III đạt mức cao nhất trong ba quý và tăng so với cùng kỳ năm trước. Đối với khai thác, sản lượng tăng nhờ thời tiết thuận lợi, đây cũng là mùa thu hoạch nhiều loại hải sản biển. Đối với nuôi trồng, người dân tranh thủ thu hoạch sớm trước mùa mưa bão nhưng do dịch bệnh xảy ra tại một số địa phương và thiệt hại từ cơn bão tháng 6 nên sản lượng giảm. Nhìn chung, tổng sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ sản lượng khai thác.
Ước tính sản lượng thuỷ sản quý III/2025 đạt 48.379,4 tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 38.824,7 tấn, tăng 3,9%; tôm đạt 4.573,3 tấn, giảm 0,1%; thủy sản khác đạt 4.981,4 tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thuỷ sản 9 tháng ước đạt 114.250,6 tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 92.499,2 tấn, tăng 2,0%; tôm đạt 8.247,6 tấn, giảm 1,4%; thủy sản khác đạt 13.503,8 tấn, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước.
- Khai thác
Quý III năm 2025 thời tiết thuận lợi, các chủ tàu tiếp tục bám biển vươn khơi đánh bắt, số ngày hoạt động nhiều hơn nên sản lượng khai thác tăng so với các quý trước và cùng kỳ năm trước.
Ước tính sản lượng thuỷ sản quý III/2025 đạt 38.450,4 tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 33.001,6 tấn, tăng 4,6%; tôm đạt 722,7 tấn, tăng 1,5%; thủy sản khác đạt 4.726,1 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng khai thác thủy sản 9 tháng ước đạt 95.843,4 tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 81.218,7 tấn, tăng 2,5%; tôm đạt 1.653,5 tấn, tăng 0,7%; thủy sản khác đạt 12.971,2 tấn, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm trước.
Công tác kiểm tra đăng ký, đăng kiểm tàu cá và các điều kiện đảm bảo an toàn phương tiện được chú trọng, các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ được ban hành. Từ đó giúp cho hoạt động khai thác đánh bắt thuỷ hải sản trên biển đạt hiểu quả kinh tế cao đảm bảo đúng theo quy định.
- Nuôi trồng
Những tháng đầu năm, mưa rét kéo dài khiến người dân hạn chế thả giống và phải thả muộn hơn so với lịch thời vụ, dẫn đến sản lượng thu hoạch chưa cao. Bên cạnh đó, tại một số vùng, dịch bệnh trên tôm diễn biến phức tạp gây thiệt hại diện tích nuôi; người dân gặp khó khăn về vốn đầu tư, chi phí thức ăn duy trì ở mức cao nên quy mô thả nuôi giảm. Ngoài ra, một số tháng trong năm thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng gay gắt xen kẽ mưa giông đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của các đối tượng nuôi, làm năng suất và sản lượng giảm so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch quý III/2025 ước đạt 9.929,0 tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 5.823,1 tấn, tăng 0,1%; tôm đạt 3.850,6 tấn, giảm 0,4%; thủy sản khác đạt 255,3 tấn, giảm 8,6% so với cùng kỳ năm trước.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng thu hoạch 9 tháng ước đạt 18.407,2 tấn, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Cá đạt 11.280,5 tấn, giảm 1,6%; tôm đạt 6.594,1 tấn, giảm 2,0%; thủy sản khác đạt 532,6 tấn, giảm 7,9% so với cùng kỳ năm trước.
Hiện nay, lĩnh vực nuôi trồng cần tăng cường công tác tập huấn kỹ thuật, kiểm tra và hướng dẫn các hộ nuôi về lựa chọn giống, thức ăn, xử lý môi trường, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, cần tập trung xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm tại các vùng nuôi tập trung, đảm bảo đầu ra ổn định và nâng cao thu nhập cho người nuôi.
3. Công nghiệp
Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong quý III và 9 tháng năm 2025 tiếp tục đạt được kết quả tích cực, nhờ duy trì đà tăng trưởng từ các tháng đầu năm. Bên cạnh đó, sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, cùng với sự hỗ trợ tích cực từ các cấp, các ngành đã giúp nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, duy trì hoạt động sản xuất ổn định, chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh và đảm bảo đơn hàng dài hạn. Một số ngành như: sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất trang phục; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; in, sao chép bản in các loại; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp trong quý III và 9 tháng năm 2025.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 9 năm 2025 ước tính tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 9,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,4%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý III năm 2025 ước tính tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 11,3%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,8%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước.
Ước tính 9 tháng năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai khoáng giảm 13,3%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,0%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước.

Trong ngành công nghiệp cấp 2, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: In, sao chép bản ghi các loại tăng 14,4%; khai khoáng khác tăng 14,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 13,5%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 10,3%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 9,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,7%;...
Một số ngành cấp 2 giảm so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất đồ uống giảm 1,2%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan giảm 8,1%; khai thác quặng kim loại giảm 47,1% (ngành khai thác quặng kim loại giảm mạnh chủ yếu do một số mỏ khai thác thời gian dài bắt đầu cạn kiệt, hàm lượng kim loại trong quặng thấp, khiến chi phí khai thác tăng cao không còn hiệu quả kinh tế nên doanh nghiệp tạm dừng khai thác; bên cạnh đó, một số doanh nghiệp tồn kho cao, chưa tiêu thụ hết nên giảm sản lượng khai thác).
Sản lượng sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 9 tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước như: đá xây dựng đạt 2.103.163 m3, tăng 8,6%; cao lanh đạt 87.747 tấn, tăng 64,9%; thủy hải sản chế biến các loại đạt 27.751 tấn, tăng 6,4%; tinh bột sắn đạt 68.537 tấn, tăng 11,0%; áo sơ mi đạt 10.233 nghìn cái, tăng 17,0%; dăm gỗ đạt 696.220 tấn, tăng 16,4%; ván ép từ gỗ đạt 223.517 m3, tăng 14,8%; viên gỗ đạt 35.876 tấn, tăng 104,1%; Clinker thành phẩm đạt 2.163.573 tấn, tăng 10,2%; thủy điện đạt 544 triệu kWh, tăng 6,3%; điện gió đạt 2.154 triệu kWh, tăng 11,4%;... Một số sản phẩm sản xuất 9 tháng năm 2025 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Quặng ilmenite đạt 9.313 tấn, giảm 45,1%; Quặng titan đạt 15.366 tấn, giảm 59,3%; bia đóng chai đạt 4.601 nghìn lít, giảm 4,3%; bia đóng lon đạt 27.002 nghìn lít, giảm 7,3%; nước khoáng có ga đạt 1.387 nghìn lít, giảm 13,8%; xi măng đạt 1.203.032 tấn, giảm 0,9%; điện mặt trời đạt 239 triệu kWh, giảm 3,4%; cao su tổng hợp đạt 955 tấn, giảm 24,9%;...
4. Hoạt động của doanh nghiệp
a) Tình hình đăng ký của doanh nghiệp
Theo số liệu báo cáo đăng ký kinh doanh Quý III (Tính từ 15/6/2025 đến 14/9/2025), toàn tỉnh tiếp nhận 3.360 hồ sơ (2.361 hồ sơ tiếp nhận trực tiếp và 999 hồ sơ tiếp nhận trực tuyến qua Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp); trong đó có 442 doanh nghiệp và 186 đơn vị trực thuộc đăng ký thành lập mới, với tổng vốn đăng ký hơn 3.064,34 tỷ đồng, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt gần 6,93 tỷ đồng;
- Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 181 doanh nghiệp, số doanh nghiệp hoạt động trở lại là 100 doanh nghiệp.
Cộng dồn 9 tháng năm 2025 (Tính từ 15/12/2024 đến 14/9/2025), toàn tỉnh tiếp nhận 7.881 hồ sơ (6.529 hồ sơ tiếp nhận trực tiếp và 1.352 hồ sơ tiếp nhận trực tuyến qua Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp); trong đó có 1.044 doanh nghiệp và 559 đơn vị trực thuộc đăng ký thành lập mới, với tổng vốn đăng ký gần 9.264,267 tỷ đồng, số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt gần 6,8 tỷ đồng;
- Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn toàn tỉnh đến thời điểm hiện nay là 9.899 doanh nghiệp;
- Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 847 doanh nghiệp, số doanh nghiệp hoạt động trở lại là 352 doanh nghiệp.
- Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tự nguyện, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh là 168 doanh nghiệp; số doanh nghiệp thông báo sẽ giải thể 252 doanh nghiệp.
b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Dựa trên kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của một số doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn trong quý III năm 2025 cho thấy có 81,4% số doanh nghiệp nhận định rằng hoạt động sản xuất kinh doanh quý III năm 2025 ổn định và tốt hơn so với quý II năm 2025 (trong đó, có 21,7% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và có 59,7% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định) và có 18,6% doanh nghiệp cho rằng hoạt động sản xuất kinh doanh quý III năm 2025 khó khăn hơn so với quý II năm 2025. Dự báo quý IV năm 2025, có 79,8% doanh nghiệp dự báo hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý IV tốt hơn và giữ ổn định so với quý III năm 2025 (trong đó, có 24,0% doanh nghiệp đánh giá tốt lên và có 55,8% doanh nghiệp đánh giá giữ ổn định), chỉ có 20,2% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh sẽ còn tiếp tục khó khăn hơn so với quý III năm 2025.
5. Vốn đầu tư
Trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức, tỉnh Quảng Trị xác định giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ trọng tâm nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngay từ đầu năm 2025, nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt đã được triển khai nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, kịp thời xử lý những tồn tại, vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án. Trong quý III, nhiều công trình, dự án lớn tiếp tục được triển khai thực hiện như: Dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch, dự án Nhà ga hành khách T2 và mở rộng sân đỗ máy bay - Cảng hàng không Đồng Hới, dự án Khu công nghiệp Cam Liên, dự án Cảng tổng hợp quốc tế Hòn La, dự án Đường ven biển và Cầu Nhật Lệ 3, dự án Khu công nghiệp Quảng Trị, dự án Cảng hàng không Quảng Trị, dự án Khu bến cảng Mỹ Thủy, dự án Đường ven biển kết nối Hành lang kinh tế Đông Tây - giai đoạn 1, Đường tránh phía Đông phường Đông Hà;… Bên cạnh đó, một số công trình, dự án lớn đã được khởi công như: Dự án Khu nghỉ dưỡng Phú Ninh, dự án Nhà ở xã hội Bảo Ninh 1, dự án Khu công nghiệp Tây Bắc Hồ Xá, dự án Trang trại chăn nuôi lợn công nghệ cao Gia Hân, dự án Khu vực 1 tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng cho dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam,…
Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh: Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh quý III năm 2025 ước đạt 20.300,2 tỷ đồng, tăng 27,1% so với quý trước và tăng 25,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh đạt 48.267,4 tỷ đồng, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy xu hướng phục hồi và duy trì tăng trưởng ổn định trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, hạ tầng và sản xuất. Trong đó: vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước đạt 19.133,5 tỷ đồng, tăng 51,1%; khu vực ngoài nhà nước đạt 28.945,2 tỷ đồng, tăng 5,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 188,7 tỷ đồng, giảm 42,8% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý tháng 9 năm 2025 ước đạt 1.286,9 tỷ đồng, tăng 10,8% so với tháng trước và tăng 85,0% so với cùng kỳ năm trước; Quý III năm 2025 ước đạt 3.450,8 tỷ đồng, tăng 67,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh do địa phương quản lý ước đạt 6.636,9 tỷ đồng, tăng 30,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 6.326,7 tỷ đồng, tăng 36,1%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 310,2 tỷ đồng, giảm 29,3% so với cùng kỳ năm trước.
6. Thương mại, dịch vụ
a) Tổng mức bán lẻ hàng hoá
Hoạt động thương mại tháng 9/2025 tiếp tục tăng trưởng, lượng cung hàng hóa trên thị trường dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa tháng 9/2025 ước tính tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu các nhóm hàng hóa đa phần tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ, cụ thể:
Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 14,0% so với cùng kỳ; nhóm may mặc ước tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ; nhóm ô tô các loại ước tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,3% so với cùng kỳ; nhóm phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) ước tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 7,6% so với cùng kỳ; nhóm xăng dầu các loại ước tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 19,4% so với cùng kỳ; nhóm nhiên liệu khác ước tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ; nhóm hàng hóa khác ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ; nhóm sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác ước tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 5,7% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, nhóm hàng hóa có doanh thu giảm so với tháng trước nhưng tăng so với cùng kỳ, đó là: Nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 8,0% so với cùng kỳ; nhóm vật phẩm văn hóa, giáo dục giảm 2,2% so với tháng trước và tăng 8,0% so với cùng kỳ; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 13,4% so với cùng kỳ; nhóm đá quý, kim loại quý giảm 0,8% so với tháng trước và tăng 16,9% so với cùng kỳ.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa quý III/2025 ước tính tăng 2,1% so với quý trước và tăng 13,1% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ đó là: Nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 13,5%, đóng góp tăng cao nhất 5,0 điểm phần trăm; nhóm may mặc ước tăng 14,1%, đóng góp tăng 1,3 điểm phần trăm; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng ước tăng 12,2%, đóng góp tăng 1,2 điểm phần trăm; nhóm xăng dầu các loại ước tăng 14,9%, đóng góp tăng 1,0 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của cả nhóm.
.
Tính chung 9 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước tăng 12,2% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm ngành đều tăng cao so với cùng kỳ. Chiếm tỷ trọng lớn và tăng cao là nhóm lương thực, thực phẩm ước tăng 13,5% so với cùng kỳ, đóng góp tăng cao nhất 5,1 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của tổng mức bán lẻ hàng hóa.
b) Lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành
Dịp lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945-19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2025), Quảng Trị đã đón lượng lớn du khách tới tham quan, lưu trú. Với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch được tổ chức an toàn, hiệu quả, thu hút số lượng Nhân dân và khách du lịch tham gia, đặc biệt là Lễ hội đua, bơi thuyền truyền thống trên sông Kiến Giang; chương trình nghệ thuật “Quảng Trị - Hội tụ và tỏa sáng”; chương trình nghệ thuật - chính luận đặc biệt “Lời tri ân - Dòng sông hoa lửa”; chương trình bắn pháo hoa tầm cao tại 2 điểm: Quảng trường Hồ Chí Minh, phường Đồng Hới; Quảng trường Trung tâm Văn hóa và Điện ảnh tỉnh, cơ sở 2, phường Nam Đông Hà và một điểm bắn pháo hoa tầm thấp tại Khu đô thị Regal Legend Bảo Ninh, phường Đồng Hới. Cùng với đó, khách du lịch đã đến các điểm di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn như: Khu mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đền tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ và hang Tám Thanh niên xung phong, Di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị,… góp phần làm hoạt động du lịch 9 tháng năm 2025 tăng trưởng mạnh. Vì vậy, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 9 tháng năm 2025 tăng cao so với cùng kỳ.

- Dịch vụ lưu trú:
Doanh thu dịch vụ lưu trú tháng 9/2025 ước giảm 12,6% so với tháng trước và tăng 22,4% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 14,3% so với quý trước và tăng 22,4% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 18,4% so với cùng kỳ.
Số lượt khách lưu trú tháng 9/2025 ước giảm 11,6% so với tháng trước và tăng 22,2% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 24,1% so với quý trước và tăng 21,6% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 14,1% so với cùng kỳ.
Ngày khách tháng 9/2025 ước giảm 10,6% so với tháng trước và tăng 22,4% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 49,4% so với quý trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 14,2% so với cùng kỳ.
- Dịch vụ ăn uống:
Doanh thu dịch vụ ăn uống tháng 9/2025 ước giảm 4,8% so với tháng trước và tăng 19,6% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 11,0% so với quý trước và tăng 18,8% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 16,0% so với cùng kỳ.
- Du lịch lữ hành:
Doanh thu hoạt động lữ hành tháng 9/2025 ước giảm 21,0% so với tháng trước và tăng 17,0% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước giảm 11,8% so với quý trước và tăng 13,0% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 22,7% so với cùng kỳ.

Số lượt khách du lịch lữ hành tháng 9/2025 ước giảm 21,2% so với tháng trước và tăng 16,4% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 7,3% so với quý trước và tăng 12,8% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 12,5% so với cùng kỳ.
Số ngày khách du lịch lữ hành tháng 9/2025 ước giảm 21,2% so với tháng trước và tăng 16,1% so với cùng kỳ; quý III/2025 ước tăng 7,1% so với quý trước và tăng 11,4% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025 tăng 11,6% so với cùng kỳ.
c) Các ngành kinh doanh dịch vụ
Chín tháng năm 2025, sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch đã thúc đẩy các ngành dịch vụ hỗ trợ phát triển theo như: giao thông vận tải; bưu chính viễn thông; bảo hiểm; dịch vụ tài chính; dịch vụ lưu trú và ăn uống. Ngành Du lịch phát triển cũng đem lại một thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn, cùng với đó là các dịch vụ vui chơi và giải trí, spa, nhà hàng, quán bar,… tạo ra hàng triệu việc làm cho nhiều lao động, do đó doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ 9 tháng năm 2025 tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ.
Ước tính doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ tháng 9/2025 giảm 0,5% so với tháng trước và tăng 17,0% so với cùng kỳ. Các nhóm ngành dịch vụ tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 21,7% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước tăng 0,3% so với tháng trước và tăng 28,0% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ giáo dục và đào tạo ước tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 4,7% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 10,5% so với cùng kỳ. Các nhóm ngành dịch vụ giảm so với tháng trước nhưng tăng so với cùng kỳ, cụ thể: nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước giảm 3,5% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và gia đình ước giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 40,5% so với cùng kỳ; nhóm dịch vụ khác ước giảm 0,01% so với tháng trước và tăng 14,2% so với cùng kỳ.
Doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ quý III/2025 ước tăng 6,6% so với quý trước và tăng 19,8% so với cùng kỳ.
Chín tháng năm 2025, doanh thu các ngành kinh doanh dịch vụ tăng 13,7% so với cùng kỳ. Trong đó, các nhóm dịch vụ đều tăng cao, cụ thể: Nhóm dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 19,2% đóng góp tăng 2,6 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 20,2% đóng góp tăng 2,8 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 1,2% đóng góp tăng 2,8 điểm phần trăm; nhóm dịch vụ khác tăng 14,4% đóng góp tăng 3,0 điểm phần trăm trong tổng số tăng chung của nhóm các ngành kinh doanh dịch vụ.
d) Hoạt động vận tải
Bước sang đầu tháng 9/2025, có kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 02/9 kéo dài 4 ngày nên nhu cầu đi lại, tham quan, du lịch của người dân tăng so với tháng trước, đặc biệt tỉnh Quảng Trị có Lễ hội đua, bơi thuyền truyền thống trên sông Kiến Giang đã thu hút đông đảo người dân từ cả nước cũng như con em trong tỉnh về quê tham gia. Mặt khác, lịch nhập học của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp cũng bắt đầu, làm cho nhu cầu đi lại tăng cao nên hoạt động vận tải hành khách tăng so với tháng trước. Bên cạnh đó, để hoàn thành tiến độ các công trình trọng điểm của tỉnh, các khu đô thị,… trước mùa mưa bão nên nhu cầu vận chuyển nguyên, vật liệu được đẩy mạnh, vì vậy hoạt động vận tải hàng hóa tăng so với tháng trước.

Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng 9/2025 ước tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 15,2% so với cùng kỳ. Trong quý III/2025, hoạt động vận tải hành khách cũng như vận tải hàng hoá đạt kết quả cao nhất, làm cho doanh thu vận tải tăng cao so với các quý trước. Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát quý III/2025 ước tăng 4,2% so với quý trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ.
Nhìn chung 9 tháng năm 2025, hoạt động vận tải tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, cả về vận tải hành khách và vận tải hàng hóa. Tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát 9 tháng năm 2025 tăng 13,1% so với cùng kỳ, trong đó: Vận tải hành khách tăng 11,9%; vận tải hàng hóa tăng 13,8%; dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hành khách:
Tháng 9/2025, số lượt hành khách vận chuyển ước tính tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 16,7% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước tính tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025, số lượt hành khách vận chuyển ước tăng 7,9% so với quý trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển ước tăng 8,7% so với quý trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng năm 2025, số lượt hành khách vận chuyển tăng 11,9% so với cùng kỳ; số lượt hành khách luân chuyển tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hàng hóa:
Tháng 9/2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 16,6% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 0,2% so với tháng trước và tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025, khối lượng hàng hóa vận chuyển ước tăng 3,6% so với quý trước và tăng 15,9% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển ước tăng 0,9% so với quý trước và tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng năm 2025, khối lượng hàng hóa vận tăng 13,7% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước.
Nhìn chung, hoạt động vận tải 9 tháng năm 2025 tăng khá cao. Những tháng cuối năm, mặc dù chịu tác động bất lợi của thời tiết phức tạp như: mưa, bão, lũ, ngập lụt xuất hiện nhiều, nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành, sự nỗ lực của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, ngành Vận tải sẽ tiếp tục duy trì và phát triển ổn định. Bên cạnh đó, hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch cũng đã đẩy mạnh và làm tốt công tác quảng bá du lịch địa phương thông qua các nền tảng số với nội dung phong phú; hoạt động xây dựng được đẩy mạnh với nhiều công trình, dự án đầu tư thực hiện trong thời gian tới sẽ thúc đẩy hoạt động vận tải hàng hóa tăng. Do đó doanh thu toàn ngành vận tải hy vọng sẽ đạt kết quả cao so với năm trước.
đ) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Tình hình giá tiêu dùng tháng 9/2025 có nhiều biến động về thị trường giá cả. Ngoài mặt hàng gạo giảm giá do vào mùa thu hoạch, còn lại một số mặt hàng thực phẩm tăng giá như: Thịt lợn, thịt bò và một số mặt hàng thủy hải sản; giá một số mặt hàng thiết yếu cũng tăng giá như: giá dầu hỏa, xăng, dầu diesel, điện, nước,… các yếu tố trên đã tác động đến Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Quảng Trị tháng 9 năm 2025 tăng 0,32% so với tháng trước, trong đó: Khu vực thành thị tăng 0,41%, khu vực nông thôn tăng 0,27%; tăng 0,90% so với tháng 12 năm trước; tăng 3,56% so với tháng 9 năm trước; tính chung 9 tháng năm 2025 CPI tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, có 9 nhóm hàng tăng giá, 2 nhóm hàng ổn định. Có 9 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước đó là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%, tác động làm CPI chung tăng 0,10 điểm phần trăm; do tháng này nguồn cung giảm, chi phí đầu vào tăng nên giá các mặt hàng thiết yếu tăng, cụ thể như: thịt lợn, thịt bò, cá, tôm hải sản giá bắt đầu tăng; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,96%, tác động đến CPI chung tăng 0,07 điểm phần trăm; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,24%, tác động đến CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm; nguyên nhân chính do nhu cầu sửa chữa nhà ở tăng cao đã làm chỉ số giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,26% so với tháng trước; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%, nhóm này đóng góp tăng 0,01 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 0,54%, tăng chủ yếu do giá xăng dầu tăng, giá nhiên liệu tăng 1,86%, trong đó: Giá xăng tăng 1,97%; giá dầu diesel tăng 0,94%,nhóm này đóng góp tăng 0,05 điểm phần trăm; nhóm giáo dục tăng 0,69%, do nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập cho học sinh chuẩn bị cho năm học mới tăng và học phí một số trường ngoài công lập tăng nên nhóm này đóng góp tăng 0,05 điểm phần trăm; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,05%. Có 2 nhóm hàng hóa ổn định đó là: nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch.
- Chỉ số giá vàng 99,99%
Giá vàng bình quân tháng 9/2025 là 11,844 triệu đồng/chỉ vàng 9999, tăng 6,22% so với tháng trước, tăng 223,21% so với kỳ gốc 2019, tăng 57,11% so với cùng kỳ, bình quân 9 tháng tăng 40,20% so với cùng kỳ.
- Chỉ số giá đô la Mỹ (USD)
Giá đô la Mỹ (USD) bình quân tháng 9/2025 là 26.300 VNĐ/USD, tăng 0,54% so với tháng trước, tăng 13,81% so với kỳ gốc 2019, tăng 6,94% so với cùng kỳ, bình quân 9 tháng tăng 3,95% so với cùng kỳ.
7. Tài chính, tín dụng
a) Tài chính
UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt triển khai các nhiệm vụ tài chính ngân sách năm 2025, yêu cầu các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục thực hiện đồng bộ giải pháp, biện pháp quản lý thu, chống thất thu ngân sách trên tất cả các lĩnh vực, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời khoản thu phát sinh theo quy định. Tổng thu NSNN 9 tháng năm 2025 ước tính đạt 10.449,4 tỷ đồng, đạt 93,7% dự toán Trung ương và đạt 87,8% dự toán địa phương giao. Trong đó, thu cân đối ngân sách đạt 7.947,5 tỷ đồng, đạt 92,4% dự toán Trung ương và đạt 85,1% dự toán địa phương giao; Thu từ xuất nhập khẩu đạt 2.221,9 tỷ, đạt 87,1% dự toán Trung ương và địa phương giao.
Việc quản lý, điều hành chi ngân sách đảm bảo chặt chẽ; theo đúng dự toán được duyệt, tiết kiệm, hiệu quả, đúng chế độ quy định; quản lý tạm ứng vốn đầu tư nguồn NSNN được tăng cường. Tổng chi NSNN trên địa bàn 9 tháng năm 2025 ước tính đạt 23.344 tỷ đồng, đạt 83,5% dự toán Trung ương và đạt 79,5% dự toán địa phương giao.
b) Tín dụng
Các tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp điều tiết tỷ giá, lãi suất theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu vốn, giữ vững ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối, thị trường vàng. Ước tính đến 30/9/2025, tổng số vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 132.030 tỷ đồng, tăng 14,5% so với đầu năm, tăng 1,5% so với tháng trước; tổng dư nợ cho vay đạt 161.426 tỷ đồng, tăng 8,5% so với đầu năm, tăng 0,5% so với tháng trước.
II. XÃ HỘI
1. Y tế
Triển khai thực hiện các quy định của Nghị định số 163/2025/NĐ-CP: Các cấp, ngành chuyên môn đã hướng dẫn các cơ sở kinh doanh dược triển khai thực hiện Thông tư số 11/2025/TT-BYT về đánh giá và duy trì Thực hành tốt tại cơ sở bán lẻ thuốc, cơ sở phân phối thuốc; đồng thời hướng dẫn về giá bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc trong khuôn viên cơ sở khám, chữa bệnh. Trong quý III, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch tháng cao điểm triển khai tích hợp thẻ BHYT lên ứng dụng VNeID nhằm tăng tỷ lệ Sổ sức khỏe điện tử của người dân trên địa bàn tỉnh. Tính đến nay, tỷ lệ người dân có Sổ sức khỏe tích hợp trên VNeID đạt 17,3%.
- Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong quý III năm 2025 (từ ngày 15/7/2025 đến ngày 14/9/2025), toàn tỉnh ghi nhận 01 vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra tại phường Đồng Hới, làm 28 người mắc, không có trường hợp tử vong. Các biện pháp chuyên môn đã được triển khai kịp thời phục vụ công tác điều tra và xử lý vụ việc.
Trong 9 tháng năm 2025, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm tại xã Dân Hóa (huyện Minh Hóa cũ) và tại Phường Đồng Hới làm 36 người mắc, 17 người được điều trị tại các cơ sở y tế, không có trường hợp tử vong.
- Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trong quý III năm 2025, toàn tỉnh ghi nhận 01 trường hợp nhiễm mới HIV, không có trường hợp tử vong. Tính chung 9 tháng năm 2025, toàn tỉnh phát hiện 17 ca nhiễm mới, 05 trường hợp tử vong do HIV/AIDS. Tính đến thời điểm báo cáo, toàn tỉnh có 600 người nhiễm HIV còn sống, tổng số bệnh nhân tử vong do AIDS là 270 người.
- Tình hình bệnh truyền nhiễm: Trong 9 tháng năm 2025, tình hình dịch bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nhìn chung có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước, nổi bật là các bệnh tiêu chảy, lỵ trực trùng, viêm gan vi rút, sốt xuất huyết và ho gà. Tuy nhiên, một số bệnh vẫn có xu hướng gia tăng như cúm, tay - chân - miệng, thủy đậu, COVID -19 và sốt rét, cùng với việc xuất hiện ca viêm não Nhật Bản. Đáng chú ý, có 01 trường hợp tử vong do ho gà, cho thấy nguy cơ dịch bệnh vẫn tiềm ẩn và có khả năng bùng phát trở lại.
Trước tình hình đó, ngành Y tế đã và đang tiếp tục tăng cường công tác giám sát, chủ động phòng chống dịch và đẩy mạnh tiêm chủng mở rộng, nhằm hạn chế tối đa lây lan và tử vong do dịch bệnh. Theo báo cáo Sở Y tế, trong quý III năm 2025, trên địa bàn toàn tỉnh có 355 ca mắc bệnh tiêu chảy, giảm 38,26% (-220 ca) so với cùng kỳ năm trước; 17 ca mắc bệnh lỵ trực trùng giảm 26,08% (-06 ca); 15 ca viêm gan vi rút, giảm 37,50% (-09 ca); 16 ca mắc bệnh quai bị, giảm 23,08% (-03 ca); 1.676 ca mắc bệnh cúm, giảm 16,99% (-343 ca); 25 ca tay - chân - miệng, giảm 16,67% (-05 ca); 132 ca mắc thủy đậu, tăng 428% (+107 ca); 37 ca COVID -19, tăng 270% (+27 ca); 01 ca mắc ho gà, giảm 80% (-04 ca); 01 ca mắc viêm não Nhật Bản, (+01 ca); 34 ca mắc sốt rét, tăng 17 lần (+32 ca); 398 ca mắc sốt xuất huyết, giảm 70,69% (-960 ca).
Cộng dồn 9 tháng năm 2025 toàn tỉnh có 1.139 ca mắc bệnh tiêu chảy, giảm 42,21% (-832 ca) so với cùng kỳ năm trước; 56 ca mắc bệnh lỵ trực trùng giảm 50,88% (-58 ca); 34 ca viêm gan vi rút, giảm 55,84% (-43 ca); 45 ca mắc bệnh quai bị, tăng 28,57% (+10 ca); 7.304 ca mắc bệnh cúm, tăng 10,0% (+665 ca); 110 ca tay - chân - miệng, tăng 71,88% (+46 ca); 482 ca mắc thủy đậu, tăng 39,31% (+136 ca); 86 ca COVID-19, tăng 352% (+67 ca); 01 ca mắc ho gà, giảm 80% (-04 ca); 01 ca mắc viêm não Nhật Bản, (+01 ca). Đặc biệt, đã có 01 trường hợp tử vong do mắc ho gà.
2. Giáo dục, đào tạo
Trong quý III năm 2025, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội nghị tổng kết năm học 2024 - 2025 và triển khai nhiệm vụ năm học 2025 - 2026. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị đã ban hành Quyết định số 1019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2025, ban hành Khung kế hoạch thời gian năm học 2025-2026 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Năm học 2025 - 2026 là năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030. Đây cũng là năm học cả nước triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ em từ 3 đến 5 tuổi.
Với chủ đề “Kỷ cương - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển”, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Trị tập trung triển khai hiệu quả Chương trình Giáo dục phổ thông theo hướng bảo đảm tính khoa học, sư phạm; công bằng trong cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng cho người học; rà soát đội ngũ giáo viên hiện có, đề xuất bổ sung biên chế giáo viên giai đoạn 2026-2030; đồng thời tập trung chỉ đạo các hoạt động chuyên môn, nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn trên địa bàn tỉnh.
3. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao
a) Hoạt động văn hóa
Trong 9 tháng năm 2025, nhiều hoạt động văn hóa thiết thực, sôi nổi được tổ chức nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân và chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước, của tỉnh. Các hoạt động tập trung vào các sự kiện trọng đại như: Chào năm mới Ất Tỵ 2025; kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2025); kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025); kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945- 02/9/2025); chào mừng sáp nhập tỉnh Quảng Trị, hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ nhất nhiệm kỳ 2025 - 2030 cùng nhiều sự kiện quan trọng khác.
Tổ chức thành công Lễ hội “Thống nhất non sông” năm 2025 nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) và 53 năm Ngày giải phóng tỉnh Quảng Trị (01/5/1972 - 01/5/2025). Phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức thành công chương trình cầu truyền hình trực tiếp Kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025). Đặc biệt, tỉnh phối hợp với Ban Văn hóa - Giải trí (Đài Truyền hình Việt Nam) tổ chức thành công chương trình nghệ thuật cầu truyền hình trực tiếp với chủ đề “Khúc ca khải hoàn” nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 27/4/2025 tại Di tích Quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải.
Tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt “Quảng Trị - Hội tụ và toả sáng” tại 02 điểm cầu: Quảng trường Hồ Chí Minh (phường Đồng Hới) và Quảng trường Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh (phường Nam Đông Hà), thu hút hơn 35.000 người đón xem trực tiếp; Tổ chức các hoạt động Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025) tại Thành phố Hà Nội. Từ ngày 28/8 đến ngày 15/9/2025, gian trưng bày của tỉnh Quảng Trị đã đón khoảng trên 112.000 lượt khách tham quan, tạo không khí sôi động và góp phần quảng bá hình ảnh địa phương.
Trên địa bàn tỉnh, nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được tổ chức phục vụ rộng khắp, trong đó chú trọng phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và lực lượng vũ trang nhân dân trong dịp Tết Nguyên Đán và các ngày lễ lớn như chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); Tổ chức Tuần Văn hóa - Du lịch Đồng Hới năm 2025 với nhiều hoạt động hấp dẫn như: Chương trình “Âm nhạc đường phố”, lễ hội ẩm thực “Hương quê”, triển lãm sinh vật cảnh nghệ thuật - ảnh “Đồng Hới xưa và nay”, giải đua thuyền truyền thống thành phố Đồng Hới năm 2025 trên sông Nhật Lệ, liên hoan các câu lạc bộ, đội, nhóm nhảy và chương trình nghệ thuật. Đặc biệt là Tuần Du lịch Quảng Bình năm 2025 diễn ra từ ngày 23/5 – 30/5/2025 với nhiều sự kiện du lịch đặc sắc, nhiều hoạt động văn hóa nổi bật như: chương trình nghệ thuật “Quảng Bình - Đến là yêu”; chương trình bắn pháo hoa tầm thấp tại Khu đô thị Bảo Ninh 1 (Regal Legend) thành phố Đồng Hới; lễ hội ẩm thực (Food Festival Việt Nam) với khoảng 100 gian hàng gồm 50 - 55 gian hàng ẩm thực, 25 - 30 gian hàng OCOP.
Tính đến ngày 31/8/2025: Tổ chức 407 đợt chiếu phim lưu động tại 02 huyện miền núi Hướng Hóa, Đakrông và 03 xã vùng khó khăn của huyện Vĩnh Linh, 16 xã thuộc các địa bàn huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa, Bố Trạch, Quảng Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy, thu hút trên 97.000 lượt người xem. Trong đó, phục vụ 20 buổi chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị, thực hiện 25 buổi chiếu phim tuyên truyền và giao lưu văn nghệ phục vụ bà con nhân dân tại các điểm vùng sâu, vùng xa. Ngoài ra, xây dựng chương trình văn nghệ và lồng ghép chiếu phim lưu động nhân kỷ niệm 80 năm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Hai đội chiếu bóng số 01, số 02 và đội chiếu bóng lưu động phục vụ chiếu phim tại các xã: A Dơi, Lìa, Tân Lập, Tà Rụt, Ba Lòng, Hướng Hiệp, Bến Quan, Dân Hóa, Tuyên Phú, Phong Nha, Trung Thuần, Trường Sơn với 88 buổi chiếu.
b) Hoạt động thể dục, thể thao
- Thể thao quần chúng: Trong 9 tháng năm 2025, phong trào thể dục thể thao (TDTT) quần chúng trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì và phát triển sâu rộng với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; tổ chức các hoạt động thể dục thể thao mừng Đảng, mừng xuân Ất Tỵ năm 2025; tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân và Tháng hoạt động thể dục thể thao cho mọi người năm 2025; tổ chức Giải Cầu lông, Bóng bàn gia đình tỉnh Quảng Bình lần thứ IV năm 2025; phối hợp với Mobifone Quảng Bình phát động nội dung chạy 10 km nam, nữ mở rộng; phối hợp tổ chức thành công giải Vô địch Karate tỉnh Quảng Trị mở rộng lần thứ I năm 2025; giải Cầu lông Công chức, viên chức, Lao động Công đoàn khối chính quyền; Hội thao các môn Cầu lông, Bóng bàn Liên đoàn Lao động; phối hợp với Liên đoàn Xe đạp - Mô tô thể thao Việt Nam tổ chức đón và tiễn Đoàn đua xe đạp toàn quốc Tranh cúp truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 37 năm 2025 “Non sông liền một dải - Niềm tin chiến thắng” đi qua địa phận tỉnh Quảng Trị và nhiều hoạt động khác.
Tổ chức thành công Giải Marathon khám phá Quảng Bình "Quang Binh Discovery Marathon” lần thứ V năm 2025; Giải Cầu lông vô địch các nhóm tuổi tỉnh Quảng Trị mở rộng năm 2025; Giải vô địch Pickleball các Câu lạc bộ tỉnh Quảng Bình mở rộng năm 2025; Giải vô địch Cầu lông các Câu lạc bộ tỉnh Quảng Bình mở rộng năm 2025; Giải Bơi nhóm tuổi các Câu lạc bộ tỉnh Quảng Bình năm 2025; Giải chạy “Quang Tri International Marathon 2025” và giải thể thao 02 môn phối hợp bơi - chạy “Aqua Warriors Quang Tri 2025” tại phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị.
Tổ chức Đại hội Thể dục thể thao các cấp và các môn thi đấu thuộc Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Quảng Trị, năm 2025 - 2026. Đến nay đã tổ chức các giải Cờ tướng, Cờ Vua, Đẩy gậy, Kéo co trong khuôn khổ Đại hội TDTT tỉnh 2025 - 2026.
Tính đến ngày 31/8/2025, phong trào TDTT quần chúng trên địa bàn tỉnh đạt nhiều kết quả tích cực: Tỷ lệ % người dân tập luyện TDTT thường xuyên đạt 37,7%; Tỷ lệ % gia đình tập luyện TDTT đạt 29,1% tổng số hộ dân. Có 1.830 câu lạc bộ và điểm tập TDTT. Có 8 liên đoàn và hiệp hội thể thao cấp tỉnh, gồm: Liên đoàn Vovinam - Việt võ đạo; Liên đoàn Bóng bàn; Hội Golf; Liên đoàn Quần vợt; Liên đoàn Karate; Hội Võ thuật cổ truyền; Câu Lạc bộ Xe đạp thể thao tỉnh và Liên đoàn Cầu lông tỉnh.
- Thể thao thành tích cao: Tiếp tục được quan tâm đầu tư và phát triển: Phối hợp với Báo Tiền Phong tổ chức thành công Giải Marathon và cự ly dài Báo Tiền Phong lần thứ 66, năm 2025 tại tỉnh Quảng Trị; Tổ chức thành công Giải vô địch môn Đua thuyền truyền thống - Lễ hội “Thống nhất non sông” tỉnh Quảng Trị mở rộng năm 2025. Giải Vô địch Bóng đá nam 7 người tỉnh Quảng Bình năm 2025 tranh Cup Huda. Phối hợp tổ chức giải Karate vô địch quốc gia Miền Trung Tây Nguyên tại tỉnh Quảng Bình (cũ).
Tiếp tục quan tâm công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng vận động viên; tập trung các môn thể thao thành tích cao có thế mạnh của tỉnh. Thành lập các Đoàn vận động viên tham gia thi đấu các giải quốc gia đạt những kết quả đáng khích lệ. Tính từ đầu năm đến ngày 16/9/2025 các đội tuyển thể thao thành tích cao tỉnh Quảng Trị đã tham gia thi đấu 47 giải, đạt 281 huy chương (60 HCV, 76 HCB, 145 HCĐ). Trong đó: có 43 giải quốc gia đạt 219 huy chương (48 HCV, 60 HCB, 111 HCĐ); 10 giải xã hội hóa đạt 55 huy chương (08 HCV, 13 HCB, 34 HCĐ) và 04 giải quốc tế đạt 07 huy chương (04 HCV, 03 HCB).
4. Tình hình trật tự an toàn xã hội
- An toàn giao thông
Theo Báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, trong quý III năm 2025 (Từ 15/7/2025 đến 14/9/2025), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 71 vụ tai nạn giao thông, làm 42 người chết và 46 người bị thương. Tất cả các vụ tai nạn giao thông đều xảy ra trên đường bộ. Cộng dồn 9 tháng năm 2025, đã xảy ra 235 vụ tai nạn giao thông, làm 150 người chết, 156 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn giảm 26,79% (-86 vụ), số người chết giảm 10,71% (-18 người), số người bị thương giảm 33,04% (-77 người). Trong các vụ tai nạn xảy ra có 232 vụ tai nạn đường bộ, làm 148 người chết, 156 người bị thương; 02 vụ tai nạn đường sắt, làm 01 người chết; 01 vụ tai nạn đường thủy nội địa, làm 01 người chết.
- Tình hình cháy nổ
Trong quý III năm 2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy, giảm 19 vụ so cùng kỳ năm trước, không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản hiện đang thống kê. Cộng dồn 9 tháng năm 2025, đã xảy ra 18 vụ cháy, không có thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản ước tính gần 500 triệu đồng.
- Tình hình thiên tai
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh chịu ảnh hưởng bởi nhiều hình thái thời tiết, nhiều vụ thiên tai xảy ra, trong đó có áp thấp nhiệt đới gây mưa lụt trên diện rộng; mưa giông, lốc sét; Bão và hoàn lưu bão ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và đời sống của người dân. Đặc biệt, trong số đó là:
Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 1 nên từ ngày 11/6 đến ngày 13/6/2025 khu vực tỉnh Quảng Trị đã xảy ra một đợt mưa lớn, khu vực phía nam mưa đặc biệt lớn trái mùa trên diện rộng đã làm 07 người chết, 01 người bị thương; làm thiệt hại khoảng 29.039,05 ha lúa và 2.131,43 ha diện tích hoa màu; gần 5.000 gia súc, gia cầm bị cuốn trôi; nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản bị cuốn trôi và cùng nhiều thiệt hại khác. Tổng thiệt hại ước tính 1.010,2 tỷ đồng. Do ảnh hưởng của bão số 5, từ ngày 24/6 đến 26/8/2025, trên địa bàn tỉnh xuất hiện gió mạnh, mưa rất lớn, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc Quảng Trị. Mưa lớn kéo dài đã gây ngập úng, ngập lụt trên diện rộng, chia cắt nhiều khu vực, một số nơi xảy ra sạt lở đất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân. Thiệt hại cụ thể: 05 người bị thương; 67 nhà bị tốc mái, 01 nhà bị sập; nhiều trụ sở, trường học và công trình hạ tầng dân sinh bị hư hỏng; 2.289 ha lúa bị đổ ngã, ngập úng; 373,5 ha hoa màu, 05 ha ngô sắn, 05 ha cây ăn quả bị thiệt hại; nhiều diện tích cây cao su, cây công nghiệp bị gãy đổ; nhiều vật nuôi bị thiệt hại cùng các tổn thất khác. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 382,1 tỷ đồng. Do ảnh hưởng trực tiếp của bão số 6, trên địa bàn tỉnh xuất hiện gió mạnh kèm theo mưa lớn trên diện rộng. Lượng mưa lớn trong thời gian ngắn đã gây ra lũ trên các sông chính vào ngày 30/8/2025. Mực nước dâng cao, gây ngập úng, ngập lụt diện rộng, chia cắt nhiều khu vực, một số nơi xảy ra sạt lở đất, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân. Thiệt hại cụ thể: 01 nhà bị tốc mái, 01 nhà bị sập (50%); 697 ha lúa, 53,95 ha hoa màu bị đổ ngã, ngập úng; nhiều vật nuôi bị thiệt hại cùng các tổn thất khác. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 90,9 tỷ đồng.
5. Tình hình nổi bật khác về xã hội
a) Đời sống dân cư
Quý III năm 2025 là thời điểm hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị chính thức sáp nhập, thành lập đơn vị hành chính trực thuộc trung ương với tên gọi tỉnh Quảng Trị. Trước sự thay đổi lớn về tổ chức hành chính, tỉnh đã kịp thời chỉ đạo, ban hành các chính sách cụ thể, thiết thực nhằm bảo đảm quyền lợi, ổn định đời sống cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.
Sau gần 03 tháng triển khai thực hiện, đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động cơ bản đã dần ổn định cuộc sống và từng bước thích nghi với môi trường làm việc mới.
Thực hiện Chỉ thị số 42/CT-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy nhanh triển khai xoá nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn cả nước và hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung tay xoá nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn cả nước đến năm 2025”, đến nay tỉnh Quảng Trị cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu đề ra, góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống, đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, thực hiện hiệu quả chính sách cho người có công, thân nhân liệt sĩ; các đối tượng yếu thế trong xã hội. Kết quả thực hiện chương trình: Tổng số nhà đã được khởi công: 13.494 căn (trong đó xây mới 7.292 căn, cải tạo sửa chữa 6.202 căn); Tổng số nhà đã hoàn thành: 12.616 căn (trong đó xây mới 6.628 căn, cải tạo sửa chữa 5.988 căn), đạt tỷ lệ hoàn thành 93,49% và phấn đấu đến 31/12/2025 hoàn thành theo yêu cầu của BCĐ Trung ương.
b) Lao động việc làm
Trong 9 tháng năm 2025, tình hình lao động, việc làm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có nhiều biến động đáng chú ý, chủ yếu do tác động từ quá trình sáp nhập tỉnh và việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Những thay đổi lớn về tổ chức hành chính đã mang lại cả cơ hội phát triển mới lẫn những thách thức đối với thị trường lao động - việc làm cũng như đời sống kinh tế - xã hội địa phương.
Về mặt tích cực, việc mở rộng quy mô tỉnh tạo điều kiện thuận lợi để tăng liên kết vùng, phát huy tốt hơn tiềm năng về hạ tầng, cảng biển, dịch vụ logistics và du lịch, đồng thời mở ra không gian mới để thu hút đầu tư và tạo thêm việc làm. Tại Đồng Hới, trung tâm hành chính mới được hình thành đã tạo thêm một số lượng việc làm ổn định trong khu vực công, đồng thời kéo theo nhu cầu về thương mại, dịch vụ, nhà ở và các hoạt động xã hội tăng lên, qua đó góp phần mở rộng thị trường lao động theo hướng tích cực.
Tuy nhiên, một số địa phương tại tỉnh Quảng Trị cũ, đặc biệt là khu vực thành phố Đông Hà đang phải đối mặt với những khó khăn không nhỏ do ảnh hưởng từ việc di dời trung tâm hành chính. Ước tính khoảng 1.500 người, chuyển từ Quảng Trị (cũ) ra Quảng Bình (cũ) công tác, dẫn đến sự sụt giảm nhu cầu tiêu dùng và sử dụng dịch vụ xã hội tại khu vực cũ, sức mua giảm, hoạt động thương mại - dịch vụ gặp nhiều khó khăn. Các doanh nghiệp địa phương phải đối diện với “khó khăn kép” khi vừa thiếu thị trường tiêu thụ, vừa khó giữ chân lao động chất lượng. Tâm lý người dân và nhà đầu tư còn thận trọng trước sự thay đổi về tổ chức hành chính, dẫn đến xu hướng đầu tư mới bị chững lại, làm giảm động lực mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, nhu cầu tuyển dụng lao động trong khu vực nhà nước có xu hướng thắt chặt, trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân chưa kịp phát triển đủ mạnh để bù đắp khoảng trống việc làm. Điều này dẫn đến khả năng tạo việc làm mới còn hạn chế, nhất là lao động trẻ mới tốt nghiệp khó tìm được công việc phù hợp tại địa phương.
Nhìn chung, lực lượng lao động của tỉnh hợp nhất có xu hướng chững lại, số lao động có việc làm giảm nhẹ, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm tăng lên. Tuy vậy, đây chủ yếu là biến động mang tính cục bộ và tạm thời, tập trung ở khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc thay đổi trung tâm hành chính. Về dài hạn, quá trình tái cơ cấu không gian phát triển và mở rộng quy mô tỉnh vẫn được kỳ vọng sẽ tạo thêm nhiều cơ hội việc làm và thúc đẩy thị trường lao động phát triển bền vững hơn.
c) Công tác an sinh xã hội
Việc hợp nhất 2 tỉnh sẽ mở ra không gian phát triển mới, tối ưu hóa nguồn lực, phát huy lợi thế hạ tầng giao thông, kinh tế biển, năng lượng sạch và du lịch. Đây là cơ hội lịch sử để hình thành một cực tăng trưởng mới của Bắc Trung Bộ. Sự mở rộng quy mô tỉnh và dân số đông hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi để củng cố, nâng cao chất lượng an sinh xã hội cho toàn thể người dân, phát huy các tiềm năng và thế mạnh sẵn có. Công tác an sinh, phúc lợi xã hội được đảm bảo, trong đó các đối tượng người cao tuổi, người nghèo, bảo trợ xã hội, người có hoàn cảnh khó khăn luôn được lãnh đạo tỉnh quan tâm và ưu tiên hàng đầu. Nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/2025), tỉnh Quảng Trị đã tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa nhằm tri ân người có công với cách mạng. Các hoạt động như thăm hỏi, tặng quà cho gia đình chính sách, hỗ trợ sửa chữa nhà tình nghĩa, tổ chức khám bệnh, cấp thuốc miễn phí, vệ sinh các nghĩa trang, nhà bia ghi danh và đài tưởng niệm đã được triển khai, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và truyền thống nhân văn của dân tộc Trong quý III năm 2025, công tác an sinh xã hội luôn được chú trọng, đặc biệt là các đối tượng người nghèo, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người cao tuổi, đối tượng yếu thế trong xã hội. Tỉnh đã hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng: Giải quyết trợ cấp hàng tháng là 314.055 triệu đồng, giảm 945 triệu đồng, giảm 0,3% so với quý trước, hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội quy định tại các chương 2, 3, 4 và 5 của Nghị định 20/2021/NĐ-CP là 188.523 triệu đồng, cấp phát miễn phí thẻ bảo hiểm y tế là 554.080 thẻ.
Khái quát lại, Quảng Trị triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển KT - XH quý III và 9 tháng năm 2025 bên cạnh những khó khăn, thách thức vẫn có nhiều thuận lợi. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đạt được những kết quả đáng ghi nhận: kinh tế ổn định và tăng trưởng khá, GRDP 9 tháng đầu năm ước tính tăng 7,92%; hoạt động lâm nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định; sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, các dự án được đẩy mạnh tiến độ, công tác giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 được chú trọng, đặc biệt là du lịch tăng trưởng nhanh. Đó là những yếu tố quan trọng góp phần vào tăng trưởng kinh tế Quảng Trị trong năm 2025. Trong thời gian tới, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, UBND, các cấp, các ngành, các địa phương quyết tâm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp của Chính phủ về phát triển KT - XH năm 2025 nhằm phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP đạt 8,0%. Cụ thể cần triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:
- Tập trung rà soát, hoàn thiện, kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân sự trong thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm vận hành thông suốt, trơn tru, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt nhất. - Đẩy mạnh cải cách hành chính và môi trường đầu tư thông qua ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong thủ tục hành chính, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch và thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, đặc biệt là thu hút vốn FDI.
- Thúc đẩy giải ngân đầu tư công, tạo bứt phá, tháo gỡ điểm nghẽn về cơ sở hạ tầng giao thông, qua đó tạo động lực cho hoạt động xây dựng tăng trưởng và đóng góp vào kinh tế tỉnh. - Tháo gỡ, vướng mắc khó khăn của doanh nghiệp: tập trung chỉ đạo các đơn vị nỗ lực, quyết liệt thực hiện các giải pháp, nhiệm vụ một cách triệt để nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.
- Quyết liệt, chủ động, tích cực thực hiện 4 Nghị quyết "Bộ tứ trụ cột" của Bộ Chính trị về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; về xây dựng và thực thi pháp luật; về phát triển kinh tế tư nhân; về hội nhập quốc tế.
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hóa, số hóa, dựa trên công nghiệp, dịch vụ, đột phá khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy mạnh mẽ các khu kinh tế, cửa khẩu, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao; nông nghiệp sạch, sinh thái; dịch vụ, du lịch chất lượng cao gắn với lịch sử, văn hóa đặc trưng, đẩy mạnh phát triển du lịch tâm linh.
- Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn: Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả và bền vững; chú trọng phối hợp các đơn vị liên quan tăng cường thu hút, kêu gọi các nhà đầu tư có tiềm lực, uy tín triển khai các dự án lớn về du lịch xứng tầm với tiềm năng, thế mạnh du lịch của tỉnh để phát triển bứt phá, tiếp tục khẳng định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác.
- Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng chiến lược (giao thông, năng lượng, đô thị, y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, thể thao,...), đẩy mạnh hợp tác công - tư; tiếp tục đẩy nhanh tiến độ, chất lượng các công trình, dự án lớn, góp phần tăng cường liên kết vùng và quốc tế, tham gia sâu các chuỗi cung, chuỗi giá trị. - Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu để bảo vệ các di tích, cảnh quan; bảo toàn các thành quả phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao môi trường sống. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các cơ chế, chính sách, giải pháp chủ động giám sát, phân tích, dự báo, cảnh báo giảm thiểu thiệt hại do thiên tai và khí hậu cực đoan gia tăng do biến đổi khí hậu, trọng tâm là dự báo, cảnh báo các thiên tai liên quan đến bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, lũ quét, sạt lở đất, cấp báo động lũ; rà soát các công trình hồ, đập, đê, kè xuống cấp, các khu vực dân cư mất an toàn,… để có phương án đảm bảo trong mùa mưa lũ./.
Tin khác